← Danh sách bài đọc
Bài 071

Voyage of going: beyond the blue line 2

Chuyến du hành của sự ra đi: Ở bên kia đại dương 2

One feels a certain sympathy for Captain James Cook on the day in 1778 that he “discovered” Hawaii.
Người ta cảm thấy một sự đồng cảm nhất định đối với thuyền trưởng James Cook vào cái ngày ông ấy khám phá Hawaii năm 1778.
Then on his third expedition to the Pacific, the British navigator had explored scores of islands across the breadth of the sea, from lush New Zealand to the lonely wastes of Easter Island.
Tại thời điểm chuyến thám hiểm lần thứ ba của ông đến Thái BÌnh Dương, một hoa tiêu người Anh trước đó đã phát hiện ra nhiều vùng đảo trải dài trên vùng biển, từ New Zealand xanh tươi đến những hoang mạc cô độc ở Easter Island.
This latest voyage had taken him thousands of miles north from the Society Islands to an archipelago so remote that even the old Polynesians back on Tahiti knew nothing about it.
Chuyến du hành gần đây nhất này đã đưa ông ấy đi hàng ngàn dặm về hướng bắc từ quần đảo Society đến một quần đảo xa xôi mà ngay cả những người Pô-li-nê-di ngày xưa ở Tahiti đã không biết gì về nó.
Imagine Cook’s surprise, then, when the natives of Hawaii came paddling out in their canoes and greeted him in a familiar tongue, one he had heard on virtually every mote of inhabited land he had visited.
Hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của Cook, sau đó, khi những người bản địa Hawaii đến bằng cách chèo xuồng và chào hỏi ông bằng một thứ ngôn ngữ quen thuộc, cái mà ông trước đó đã nghe thấy trên hầu hết mọi vùng đất có người sinh sống mà ông đã đến thăm.
Marveling at the ubiquity of this Pacific language and culture, he later wondered in his journal: “How shall we account for this Nation spreading it self so far over this Vast ocean?”
ngạc nhiên trước sự có mặt khắp nơi của ngôn ngữ và văn hoá vùng Thái Bình Dương, ông ấy sau đó đã cảm thán trong nhật ký của mình: "Chúng ta sẽ giải thích như thế nào về việc Quốc gia này tự mình vươn ra trên đại dương rộng lớn này?"
Answers have been slow in coming.
Đáp án đã đến chậm.
But now a startling archaeological find on the island of Efate, in the Pacific nation of Vanuatu, has revealed an ancient seafaring people, the distant ancestors of today’s Polynesians, taking their first steps into the unknown.
Nhưng giờ đây, một phát hiện khảo cổ học gây hoảng hốt ở hòn đảo Efate, thuộc quốc gia Vanuatu ở Thái Bình Dương, đã tiết lộ những người cổ đại chuyên đi biển, tổ tiên xa của người Pô-li-nê-di ngày nay, đã thực hiện những bước chân đầu tiên vào những vùng đất vô danh.
The discoveries there have also opened a window into the shadowy world of those early voyagers.
Những khám phá ở đó cũng mở ra một cánh cửa vào thế giới đầy bóng tối của những người du hành đầu tiên.
At the same time, other pieces of this human puzzle are turning up in unlikely places.
Cùng lúc đó, những mảnh ghép khác thuộc về con người đang dần xuất hiện ở nhiều nơi một cách không chắc chắn.
Climate data gleaned from slow-growing corals around the Pacific and from sediments in alpine lakes in South America may help explain how, more than a thousand years later, a second wave of seafarers beat their way across the entire Pacific.
Dữ liệu khí hậu góp nhặt được từ các rạn san hô chậm phát triển xung quanh Thái Bình Dương và từ trầm tích trong các hồ trên núi cao ở Nam Mỹ có thể giúp giải thích làm thế nào, hơn một nghìn năm sau, làn sóng thứ hai của những người đi biển vượt toàn bộ Thái Bình Dương.
"What we have is a first-or second-generation site containing the graves of some of the Pacific’s first explorers,” says Spriggs, professor of archaeology at the Australian National University and co-leader of an international team excavating the site.
"Những gì chúng tôi có là một địa điểm thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai chứa các mộ của những nhà thám hiểm Thái Bình Dương đầu tiên", Spriggs, giáo sư ngành khảo cổ học tại Đại học Quốc gia Úc và đồng trưởng nhóm của một nhóm quốc tế đang khai quật địa điểm này cho biết.
It came to light only by luck.
Nó đã được biết tới một cách tình cờ.
A backhoe operator, digging up topsoil on the grounds of a derelict coconut plantation, scraped open a grave – the first of dozens in a burial ground some 3,000 years old.
Một người vận hành máy xúc gầu sấp, đào bới lớp đất mặt trên những khoảng đất của một đồn điền dừa bị bỏ hoang, đã cào xát ra một ngôi mộ - cái đầu tiên trong hàng chục ngôi mộ ở một nghĩa trang 3.000 năm tuổi.
It is the oldest cemetery ever found in the Pacific islands, and it harbors the bones of an ancient people archaeologists call the Lapita, a label that derives from a beach in New Caledonia where a landmark cache of their pottery was found in the 1950s.
Đó là một nghĩa trang lâu đời nhất được tìm thấy ở quần đảo Thái Bình Dương, và nó cất giữ xương của người cổ đại mà các nhà khảo cổ học gọi là Lapita, một cái tên bắt nguồn từ một bãi biển ở New Caledonia nơi mà một điểm mốc đánh dấu ẩn chứa đồ gốm sứ của họ được tìm thấy vào những năm 1950.
They were daring blue-water adventurers who roved the sea not just as explorers but also as pioneers, bringing along everything they would need to build new lives— their families and livestock, taro seedlings and stone tools.
Họ là những nhà thám hiểm biển cả đầy táo bạo, những người đi lang thang trên biển không chỉ là những nhà thám hiểm mà còn là những người khai hoang, mang theo mọi thứ họ cần để xây dựng cuộc sống mới - gia đình họ và gia súc, cây con khoai môn và những công cụ bằng đá.
Within the span of a few centuries the Lapita stretched the boundaries of their world from the jungle-clad volcanoes of Papua New Guinea to the loneliest coral outliers of Tonga, at least 2,000 miles eastward in the Pacific.
Trong khoảng vài thế kỷ người Lapita đã mở rộng biên giới của họ từ những ngọn núi lửa bao phủ rừng rậm của Papua New Guinea đến những vùng san hô ngoại vi cô độc nhất của Tonga, ít nhất là 2,000 dặm về hướng đông ở Thái Bình Dương.
Along the way they explored millions of square miles of unknown sea, discovering and colonizing scores of tropical islands never before seen by human eyes: Vanuatu, New Caledonia, Fiji, Samoa.
Trên đường đi họ đã thám hiểm hàng triệu dặm vuông của vùng biển vô danh, khám phá và chiếm làm thuộc địa nhiều vùng đảo nhiệt đới chừa từng được thấy trước đây bởi con người: Vanuatu, New Caledonia, Fiji, Samoa.
What little is known or surmised about them has been pieced together from fragments of pottery, animal bones, obsidian flakes, and such oblique sources as comparative linguistics and geochemistry.
Những gì ít được biết hoặc phỏng đoán về họ đã được ghép lại từ những mảnh gốm, xương động vật, hắc diệu thạch, và các nguồn gián tiếp như ngôn ngữ học và địa hoá đối chiếu.
Although their voyages can be traced back to the northern islands of Papua New Guinea, their language variants of which are still spoken across the Pacific came from Taiwan.
Mặc dù những chuyến du hành của họ có thể được truy nguyên đến quần đảo phía bắc của Papua New Guinea, ngôn ngữ của họ - các biến thể của nó vẫn được sử dụng khắp Thái Bình Dương - đã đến từ Đài Loan.
And their peculiar style of pottery decoration, created by pressing a carved stamp into the clay, probably had its roots in the northern Philippines.
Và phong cách trang trí đồ gốm riêng biệt của họ, được tạo ra bởi việc ấn con dấu chạm khắc vào đất sét, có lẽ đã có nguồn gốc từ phía bắc Philippines.
With the discovery of the Lapita cemetery on Efate, the volume of data available to researchers has expanded dramatically.
Với sự khám phá nghĩa trang Lapita trên Efate, khối lượng dữ liệu có sẵn cho các nhà nghiên cứu đã mở rộng một cách đột ngột.
The bones of at least 62 individuals have been uncovered so far including old men, young women, even babies—and more skeletons are known to be in the ground.
Cho đến nay, xương của ít nhất 62 người đã được phát hiện - bao gồm cả đàn ông già, phụ nữ trẻ, thậm chí cả trẻ sơ sinh - và nhiều bộ xương thêm nữa được biết trong lòng đất.
Archaeologists were also thrilled to discover six complete Lapita pots; before this, only four had ever been found.
Các nhà khảo cổ học cũng vui mừng xúc động khi phát hiện ra 6 chiếc bình Lapita hoàn chỉnh; trước đó, chỉ có bốn chiếc từng được tìm thấy.
Other discoveries included a burial urn with modeled birds arranged on the rim as though peering down at the human bones sealed inside.
Các khám phá khác đã bao gồm một bình đựng tro hoả táng với những con chim được nặn kiểu trên vành bình như thể nhìn kỹ xuống xương người được bịt kín bên trong.
It’s an important find, Spriggs says, for it conclusively identifies the remains as Lapita.
Spriggs nói rằng đó là một phát hiện quan trọng vì nó xác định một cách chắc chắn hài cốt là người Lapita.
“It would be hard for anyone to argue that these aren’t Lapita when you have human bones enshrined inside what is unmistakably a Lapita urn.”
“Khó ai có thể tranh luận rằng đây không phải là Lapita khi bạn có xương người được trân trọng cất giữ bên trong một chiếc bình Lapita không thể nhầm lẫn được.”
Several lines of evidence also undergird Spriggs’s conclusion that this was a community of pioneers making their first voyages into the remote reaches of Oceania.
Một vài bằng chứng cũng đã củng cố kết luận của Spriggs rằng đây là một cồng đồng người khai hoang thực hiện những chuyến du hành đầu tiên đến những vùng đất xa xôi của Châu Đại Dương.
For one thing, the radiocarbon dating of bones and charcoal places them early in the Lapita expansion.
Trước hết, việc tính niên đại cacbon của xương và than đặt chúng vào giai đoạn đầu của quá trình mở rộng Lapita.
For another, the chemical makeup of the obsidian flakes littering the site indicates that the rock wasn’t local; instead it was imported from a large island in Papua New Guinea’s Bismarck Archipelago, the springboard for the Lapita’s thrust into the Pacific.
Mặt khác, thành phần hoá học của hắc diệu thạch rải rác trên địa điểm chỉ ra rằng tảng đá không phải là cục bộ; thay vào đó, nó được du nhập từ một hòn đảo lớn ở quần đảo Bismarck của Papua New Guinea, làm bàn đạp cho cuộc tấn công của người Lapita vào Thái Bình Dương.
A particularly intriguing clue comes from chemical tests on the teeth of several skeletons.
Một manh mối đặc biệt hấp dẫn đến từ các thử nghiệm hóa học trên răng của một số bộ xương.
DNA teased from these ancient bones may also help answer one of the most puzzling questions in Pacific anthropology:
ADN lấy ra từ những mảnh xương cổ đại này cũng có thể giúp trả lời một trong những câu hỏi làm hoang mang về nhân loại học Thái Bình Dương:
Did all Pacific islanders spring from one source or many?
Có phải tất cả cư dân các đảo ở Thái Bình Dương xuất phát từ một hay nhiều nguồn?
Was there only one outward migration from a single point in Asia, or several from different points?
Chỉ có một cuộc di cư duy nhất ra nước ngoài từ một điểm ở Châu Á, hay một vài từ các điểm khác nhau?
“This represents the best opportunity we’ve had yet,” says Spriggs, “to find out who the Lapita actually were, where they came from, and who their closest descendants are today."
Spriggs nói: "Điều này tượng trưng cho cơ hội tốt nhất mà chúng tôi chưa có được để phát hiện người Lapita thực sự là ai, họ đến từ đâu, và hậu duệ gần gũi nhất của họ ngày nay là ai."
“There is one stubborn question for which archaeology has yet to provide any answers: How did the Lapita accomplish the ancient equivalent of a moon landing, many times over?
“Có một câu hỏi khó từ bỏ mà người xưa vẫn chưa đưa ra được câu trả lời: Làm thế nào người Lapita thực hiện đương lượng việc hạ cánh trên mặt trăng nhiều lần như vậy
No one has found one of their canoes or any rigging, which could reveal how the canoes were sailed.
Không ai đã tìm thấy một trong những chiếc xuồng của họ hay dây buộc buồm và cột buồm, những cái mà có thể tiết lộ cách những chiếc xuồng được chạy trên biển.
Nor do the oral histories and traditions of later Polynesians offer any insights, for they segue into myth long before they reach as far back in time as the Lapita.
Lịch sử và truyền thống truyền miệng của những người Pô-li-nê-di sau này cũng không cung cấp bất kỳ sự hiểu biết sâu sắc nào, vì họ đã chuyển đổi thành thần thoại từ rất lâu trước khi họ tiến tới thời điểm trước đó như người Lapita.
"All we can say for certain is that the Lapita had canoes that were capable of ocean voyages, and they had the ability to sail them,” says Geoff Irwin, a professor of archaeology at the University of Auckland and an avid yachtsman.
“Tất cả những gì chúng ta có thể nói chắc chắn là người Lapita có những chiếc xuồng có khả năng đi biển, và họ có thể lái chúng," Geoff Irwin cho biết, một giáo sư khảo cổ học tại Đại học Auckland và là một người ham mê chơi du thuyền.
Those sailing skills, he says, were developed and passed down over thousands of years by earlier mariners who worked their way through the archipelagoes of the western Pacific making short crossings to islands within sight of each other.
Ông ấy nói những kỹ năng đi thuyền đó đã được phát triển và truyền lại qua hàng nghìn năm bởi những thuỷ thủ trước đó, những người đã nỗ lực di chuyển qua các quần đảo phía tây Thái BÌnh Dương, thực hiện những chuyến vượt biển ngắn đến những hòn đảo nằm trong tầm nhìn của nhau.
Reaching Fiji, as they did a century or so later, meant crossing more than 500 miles of ocean, pressing on day after day into the great blue void of the Pacific.
Đến được Fiji, như cách họ đã làm trong một thế kỷ hoặc lâu hơn, có nghĩa là vượt qua hơn 500 dặm đại dương, ngày này qua ngày khác, tiếp tục du hành vào khoảng không xanh lớn của Thái Bình Dương.
What gave them the courage to launch out on such a risky voyage?
Điều gì đã làm cho họ có can đảm để bắt đầu dấn vào một chuyến đi đầy rủi ro như vậy?
The Lapita’s thrust into the Pacific was eastward, against the prevailing trade winds, Irwin notes.
cuộc tấn công của người Lapita vào Thái Bình Dương là về hướng đông, chống lại những cơn gió mậu dịch thịnh hành, Irwin lưu ý.
Those nagging headwinds, he argues, may have been the key to their success.
Những cơn gió ngược dai dẳng, ông lập luận, có thể là chìa khóa thành công của họ.
“They could sail out for days into the unknown and reconnoiter, secure in the knowledge that if they didn’t find anything, they could turn about and catch a swift ride home on the trade winds. It’s what made the whole thing work.”
“Họ có thể đi thuyền trong nhiều ngày tới vùng đất mới và do thám, an tâm khi biết rằng nếu họ không tìm thấy bất cứ điều gì, họ có thể quay lại và thực hiện chuyến đi nhanh chóng trở về nhà theo hướng gió mậu dịch. Nó là thứ làm cho toàn bộ điều thành công.
Once out there, skilled seafarers would detect abundant leads to follow to land: seabirds and turtles, coconuts and twigs carried out to sea by the tides, and the afternoon pileup of clouds on the horizon that often betokens an island in the distance.
Một khi ra khỏi đó, những người đi biển lành nghề sẽ phát hiện ra nhiều đầu mối để theo vào đất liền: chim biển và rùa, dừa và những cành cây được mang ra biển bởi thủy triều, và những đám mây buổi chiều ở đường chân trời mà thường chỉ rõ một hòn đảo ở phía xa.
Some islands may have broadcast their presence with far less subtlety than a cloud bank.
Một số hòn đảo có thể đã truyền đi sự hiện diện của chúng với mức độ kém tinh tế hơn nhiều so với một đám mây lớn.
Some of the most violent eruptions anywhere on the planet during the past 10,000 years occurred in Melanesia, which sits nervously in one of the most explosive volcanic regions on Earth.
Nhiều sự phun trào núi lửa dữ dội ở bất cứ đâu trên hành tinh này trong suốt 10,000 năm qua đã xảy ra ở Melanesia, nằm ở một trong những vùng núi lửa dễ nổ nhất trên Trái đất một cách đáng lo ngại.
Even less spectacular eruptions would have sent plumes of smoke bilbwing into the stratosphere and rained ash for hundreds of miles.
Thậm chí những sự phun trào ít hùng vĩ hơn cũng sẽ tạo ra những chùm khói dâng lên cuồn cuộn vào tầng bình lưu và gây mưa tro bụi kéo dài hàng trăm dặm.
It’s possible that the Lapita saw these signs of distant islands and later sailed off in their direction, knowing they would find land.
Có khả năng là người Lapita đã nhìn thấy những dấu hiệu này của những hòn đảo xa và sau đó đi thuyền ra khỏi hướng của họ, biết rằng họ có thể tìm thấy đất liền.
For returning explorers, successful or not, the geography of their own archipelagoes provided a safety net to keep them from overshooting their home ports and sailing off into eternity.
Đối với những nhà thám hiểm trở về, dù thành công hay không, vị trí địa lý của các quần đảo của riêng họ đã cung cấp một mạng lưới an toàn để giữ họ không vượt xa quá bến cảng quê nhà và đi vào cõi vĩnh hằng.

Từ vựng (113)

  • betoken (bɪˈtoʊ.kən) — báo hiệu, chỉ rõ
  • thrill (θrɪl) — vui mừng
  • startling (ˈstɑːr.t̬əlɪŋ) — gây hoảng hốt
  • harbor (ˈhɑːr.bɚ) — cất giữ
  • emptiness (ˈemp.ti.nəs) — tình trạng rỗng không
  • pioneer (ˌpaɪəˈnɪr) — người khai hoang
  • slow-growing (sloʊ) (ˈɡroʊ.ɪŋ) — chậm phát triển
  • makeup (ˈmeɪk.ʌp) — thành phần
  • void (vɔɪd) — khoảng không
  • stratosphere (ˈstræt̬.ə.sfɪr) — tầng bình lưu
  • oblique (oʊˈbliːk) — gián tiếp
  • rove (roʊv) — lang thang
  • dig up (dɪɡ) (ʌp) — đào bới
  • reconnoiter (ˌriː.kəˈnɔɪ.t̬ɚ) — thăm dò
  • descendant (dɪˈsen.dənt) — hậu duệ
  • pass down (pæs) (daʊn) — truyền lại
  • sediment (ˈsed.ə.mənt) — trầm tích
  • expedition (ˌek.spəˈdɪʃ.ən) — chuyến thám hiểm
  • excavate (ˈek.skə.veɪt) — khai quật
  • unmistakably (ˌʌn.mɪˈsteɪ.kə.bli) — khoong thể nhầm lẫn
  • by luck (baɪ) (lʌk) — một cách tình cờ
  • avid yachtsman (ˈæv.ɪd) (ˈjɑːts.mən) — người ham mê chơi du thuyền
  • call it quits (kɑːl) (ɪt) (kwɪts) — quyết định từ bỏ
  • archipelago (ˌɑːr.kəˈpel.ə.ɡoʊ) — quần đảo
  • plantation (plænˈteɪ.ʃən) — đồn điền
  • volume (ˈvɑːl.juːm) — số lượng, khối lượng
  • peculiar (pɪˈkjuːl.jɚ) — riêng biệt
  • remain (rɪˈmeɪn) — thi hài
  • plume (pluːm) — chùm
  • spring from (sprɪŋ) (frɑːm) — xuất phát từ
  • scrape (skreɪp) — bới, cạo
  • dramatically (drəˈmæt̬.ɪ.kəl.i) — một cách đột ngột
  • mariner (ˈmer.ə.nɚ) — thủy thủ
  • broadcast (ˈbrɑːd.kæst) — phát đi, truyền đi
  • sympathy (ˈsɪm.pə.θi) — sự đồng cảm
  • skeleton (ˈskel.ə.t̬ən) — bộ xương
  • enshrine (ɪnˈʃraɪn) — trân trọng cất giữ
  • daring (ˈder.ɪŋ) — táo bạo
  • colonize (ˈkɑː.lə.naɪz) — chiếm làm thuộc địa
  • tease (tiːz) — lấy ra
  • oral (ˈɔːr.əl) — truyền miệng
  • span (spæn) — khoảng thời gian
  • account for (əˈkaʊnt) (fɔːr) — giải thích
  • modeled (ˈmɑdəɫd) — được nặn kiểu
  • burial ground (ˈber.i.əl) (ɡraʊnd) — nơi chôn cất
  • came to light (keɪm) (tuː) (laɪt) — được biết tới
  • litter (ˈlɪt̬.ɚ) — rải rác
  • stretch (stretʃ) — mở rộng
  • cemetary (cemetary*) — nghĩa trang
  • surmise (sɚˈmaɪz) — phỏng đoán
  • trade winds (treɪd) (ˈwaɪndz, ˈwɪndz) — gió mậu dịch
  • derelict (ˈder.ə.lɪkt) — bị bỏ hoang
  • territory (ˈter.ə.tɔːr.i) — lãnh thổ
  • venture (ˈven.tʃɚ) — maọ hiểm
  • the jungle-clad volcano (ðə) (ˈdʒʌŋ.ɡəl) (klæd) (vɑːlˈkeɪ.noʊ) — ngọn núi lửa bao phủ rừng rậm
  • intriguing (ɪnˈtriː.ɡɪŋ) — hấp dẫn
  • alpine (ˈæl.paɪn) — trên núi cao
  • ash (æʃ) — tro bụi
  • tongue (tʌŋ) — ngôn ngữ
  • clad (klæd) — bao phủ
  • lush (lʌʃ) — xanh tươi
  • abundant (əˈbʌn.dənt) — nhiều
  • crossing (ˈkrɑː.sɪŋ) — sự vượt biển
  • encounter (ɪnˈkaʊn.t̬ɚ) — bắt gặp, đương đầu
  • dating (deɪt) — việc tính niên đại
  • inhabited land (ˌɪnˈhæbətəd) (lænd) — vùng đất có người sinh sống
  • navigator (ˈnæv.ə.ɡeɪ.t̬ɚ) — hoa tiêu
  • thrust (θrʌst) — cuộc tấn công
  • trace back to (treɪs) (bæk) (tuː) — truy nguyên đến
  • fragment (ˈfræɡ.mənt) — mảnh vỡ
  • shadowy (ˈʃæd.oʊ.i) — đầy bóng tối
  • glean (ɡliːn) — góp nhặt
  • springboard (ˈsprɪŋ.bɔːrd) — bàn đạp
  • migration (maɪˈɡreɪ.ʃən) — cuộc di cư
  • ubiquity (juːˈbɪk.wə.t̬i) — sự có mặt khắp nơi
  • burial urn (ˈber.i.əl) (ɝːn) — bình đựng tỏ hoả táng
  • expand (ɪkˈspænd) — mở rộng
  • accomplish (əˈkɑːm.plɪʃ) — thực hiện
  • struck out (strʌk) (aʊt) — đã bắt đầu
  • stubborn (ˈstʌb.ɚn) — ngoan cố, khó cất bỏ
  • overshoot (ˌoʊ.vɚˈʃuːt) — vượt xa
  • pottery (ˈpɑː.t̬ɚ.i) — đồ gốm sứ
  • peer (pɪr) — nhìn kỹ
  • variant (ˈver.i.ənt) — biến thể
  • Marveling at (ˈmɑɹvəɫɪŋ) (æt) — ngạc nhiên
  • myth (mɪθ) — thần thoại
  • livestock (ˈlaɪv.stɑːk) — gia súc
  • seal (siːl) — bịt kín
  • derive from (dɪˈraɪv) (frɑːm) — bắt nguồn từ
  • launch out (lɑːntʃ) (aʊt) — bắt đầu
  • eruption (ɪˈrʌp.ʃən) — sự phun trào núi lửa
  • rim (ˈɹɪm) — vành
  • seafaring (ˈsiːˌfer.ɪŋ) — đi biển
  • equivalent (ɪˈkwɪv.əl.ənt) — vật tương đương
  • grave (ɡreɪv) — huyệt, mộ
  • seedlings (ˈsidɫɪŋz) — cây con
  • puzzling (ˈpʌz.əl.ɪŋ) — làm bối rối
  • cache (kæʃ) — ẩn dấu
  • scores of (ˈskɔɹz) (əv) — nhiều nhóm
  • anthropology (ˌæn.θrəˈpɑː.lə.dʒi) — nhân loại học
  • spectacular (spekˈtæk.jə.lɚ) — hùng vĩ
  • paddle (ˈpæd.əl) — chèo xuồng
  • archaeology (ˌɑːr.kiˈɑː.lə.dʒi) — khảo cổ học
  • press on (pres) (ɑːn) — tiếp tục di chuyển
  • operator (ˈɑː.pə.reɪ.t̬ɚ) — người vận hành
  • undergird (ˌʌn.dɚˈɡɜ˞ːd) — củng cố
  • waste (weɪst) — hoang mạc
  • identifies (aɪˈdɛntəˌfaɪz) — xác định
  • conclusively (kənˈkluː.sɪv.li) — mang tính thuyết phục
  • in search of (ˈɪn, ɪn) (sɝːtʃ) (əv) — tìm kiếm
  • virtually (ˈvɝː.tʃu.ə.li) — gần như
  • eternity (ɪˈtɝː.nə.t̬i) — cõi vĩnh hằng
  • segue (ˈseɡ.weɪ) — di chuyển nhẹ nhàng