← Danh sách bài đọc
Bài 075
The Exploration of Mars
Cuộc khám phá sao Hỏa
Nguồn: https://ieltssongngu.com
In 1877, Giovanni Schiaparelli, an Italian astronomer, made drawings and maps of the Martian surface that suggested strange features.
Vào năm 1877, Giovanni Schiaparelli - một nhà thiên văn học người Ý - đã tạo ra các bản vẽ và bản đồ bề mặt sao Hỏa, nó đã gợi ra những đặc điểm kỳ lạ.
The images from telescopes at this time were not as sharp as today’s.
Hình ảnh từ kính thiên văn vào thời điểm ấy không sắc nét như ngày nay.
Schiaparelli said he could see a network of lines, or canali.
Schiaparelli nói ông có thể nhìn thấy hệ thống các đường kẻ, hoặc các kênh rạch.
In 1894, an American astronomer, Percival Lowell, made a series of observations of Mars from his own observations of Mars from his own observatory at Flagstaff, Arizona, USA.
Vào năm 1984, Percival Lowell - một nhà thiên văn học người Mỹ - đã thực hiện một loạt các quan sát với sao Hỏa từ đài thiên văn riêng của mình tại Flagstaff, Arizona, Hoa Kỳ.
Lowell was convinced a great network of canals had been dug to irrigate crops for the Martian race!
Lowell tin rằng một hệ thống kênh rạch tuyệt vời đã được đào để tưới tiêu cây trồng cho tộc người sao Hỏa.
He suggested that each canal had fertile vegetation on either side, making them noticeable from Earth.
Ông cho rằng mỗi con kênh đều có thảm thực vật màu mỡ ở hai bên, khiến chúng có thể dễ dàng được nhận thấy từ Trái Đất.
Drawings and globes he made show a network of canals and oases all over the planet.
Các bản vẽ và quả cầu do ông tạo ra cho thấy một hệ thống các kênh rạch và ốc đảo trên khắp hành tinh.
The idea that there was intelligent life on Mars gained strength in the late 19th century.
Ý tưởng về việc có sự sống thông minh trên sao Hỏa đã trở nên mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19.
In 1898, H.G. Wells wrote a science fiction classic, The War of the Worlds about an invading force of Martians who try to conquer Earth.
Vào năm 1898, H.G Wells đã viết một tác phẩm khoa học viễn tưởng kinh điển, The War of the Worlds - Chiến tranh giữa các Thế giới - kể về những kẻ xâm lược từ sao Hỏa đang cố gắng chinh phục Trái Đất.
They use highly advanced technology (advanced for 1898) to crush human resistance in their path.
Chúng sử dụng công nghệ cực kỳ tiên tiến (tiên tiến đối với năm 1898) để dẹp tan sự phản kháng của nhân loại trên con đường của chúng.
In 1917, Edgar Rice Burroughs wrote the first in a series of 11 novels about Mars.
Năm 1917, Edgar Rice Burroughs viết cuốn đầu tiên trong loạt 11 tiểu thuyết về sao Hỏa.
Strange beings and rampaging Martian monsters gripped the public’s imagination.
Những sinh vật kì lạ và những con quái vật sao Hỏa hung hãn đã thu hút trí tưởng tượng của công chúng.
A radio broadcast by Orson Welles on Halloween night in 1938 of The War of the Worlds caused widespread panic across America.
Vào đêm Halloween năm 1938, một chương trình phát thanh của Orson Welles kể về "Chiến tranh giữa các thế giới" đã gây ra cơn hoảng loạn lan rộng khắp nước Mỹ.
People ran into the streets in their pyjamas-millions believed the dramatic reports of a Martian invasion.
Mọi người chạy ra đường trong bộ đồ ngủ - hàng triệu người tin vào những câu chuyện kịch tính về một cuộc xâm lăng của người sao Hỏa.
Probes are very important to our understanding of other planets.
Những thiết bị thăm dò rất quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về các hành tinh khác.
Much of our recent knowledge comes from these robotic missions into space.
Phần lớn kiến thức gần đây của chúng ta đều đến từ những phái đoàn robot trong không gian.
The first images sent back from Mars came from Mariner 4 in July 1965.
Những tấm ảnh đầu tiên được gửi về từ sao Hỏa là từ Mariner 4 vào tháng 7 năm 1965.
They showed a cratered and barren landscape, more like the surface of our moon than Earth.
Chúng cho thấy một khung cảnh sần sùi và khô cằn, giống bề mặt của mặt trăng hơn là Trái đất.
In 1969, Mariners 6 and 7 were launched and took 200 photographs of Mars’s southern hemisphere and pole on fly-by missions.
Năm 1969, tàu Mariners 6 và 7 đã được phóng đi và chụp 200 bức ảnh về bán cầu nam cũng như điểm cực của sao Hỏa trong hành trình của mình.
But these showed little more information.
Nhưng những điều này chỉ cho thấy thêm một chút thông tin.
In 1971, Mariner 9’s mission was to orbit the planet every 12 hours.
Năm 1971, nhiệm vụ của Mariner 9 là quay quanh sao Hỏa 12 giờ một lần.
In 1975, The USA sent two Viking probes to the planet, each with a lander and an orbiter.
Năm 1975, Hoa Kỳ đã gửi hai thiết bị thăm dò Viking đến sao Hỏa, mỗi thiết bị bao gồm một tàu đổ bộ và một vệ tinh nhân tạo.
The Landers had sampler arms to scoop up Maritain rocks and did experiments to try and find signs of life.
The Landers có những cánh tay lấy mẫu để xúc những viên đá sao Hỏa và làm thí nghiệm để thử tìm dấu hiệu của sự sống.
Although no life was found, they sent back the first colour pictures of the planet’s surface and atmosphere from pivoting cameras.
Tuy không tìm được sự sống, chúng đã gửi lại những tấm ảnh màu đầu tiên về bề mặt và bầu khí quyển của hành tinh này chụp từ máy ảnh của mình.
The Martian meteorite found in Earth aroused doubts to the above analysis.
Thiên thạch sao Hỏa được tìm thấy ở Trái đất đã làm dấy lên nghi ngờ đối với những phân tích trên.
ALH84001 meteorite was discovered in December 1984 in Antarctica, by members of the ANSMET project; The sample was ejected from Mars about 17 million years ago and spent 11,000 years in or on the Antarctic ice sheets.
Thiên thạch ALH84001 được phát hiện vào tháng 12 năm 1984 tại Nam Cực, bởi các thành viên của dự án ANSMET; Mẫu vật vọt ra từ sao Hỏa khoảng 17 triệu năm trước và trải qua 11.000 năm trong hoặc trên các tảng băng ở Nam Cực.
Composition analysis by NASA revealed a kind of magnetite that on Earth, is only found in association with certain microorganisms.
Bản phân tích thành phần của NASA đã tiết lộ một loại manhêtit - vật chất chỉ được tìm thấy cùng với một số vi sinh vật nhất định trên Trái Đất.
Some structures resembling the mineralized casts of terrestrial bacteria and their appendages fibrils or by-products occur in the rims of carbonate globules and pre-terrestrial aqueous alteration regions.
Một số cấu trúc giống như phôi khoáng hóa của vi khuẩn trên cạn và các sợi nhỏ thêm vào hoặc phụ phẩm xuất hiện trong các viền chung quanh các hạt cầu cacbonat và các vùng biến đổi nước tiền mặt đất.
The size and shape of the objects is consistent with Earthly fossilized nanobacteria but the existence of nanobacteria itself is still controversial.
Kích cỡ và hình dáng của các vật thể phù hợp với khuẩn nano hóa thạch trên Trái Đất nhưng sự tồn tại của khuẩn nano vẫn còn gây tranh cãi.
In 1965, the Mariner 4 probe discovered that Mars had no global magnetic field that would protect the planet from potentially life-threatening cosmic radiation and solar radiation; observations made in the late 1990s by the Mars Global Surveyor confirmed this discovery.
Năm 1965, tàu thăm dò Mariner 4 phát hiện ra rằng sao Hỏa không có từ trường để bảo vệ hành tinh khỏi bức xạ vũ trụ và bức xạ mặt trời có khả năng gây nguy hiểm đến sự sống trên hành tinh; các quan sát được thực hiện vào cuối những năm 1990 của Cơ quan Khảo sát Toàn cầu Sao Hỏa đã xác nhận phát hiện này.
Scientists speculate that the lack of magnetic shielding helped the solar wind blow away much of Mars’s atmosphere over the course of several billion years.
Các nhà khoa học suy đoán rằng việc thiếu đi lớp che chắn từ trường đã khiến cho gió mặt trời thổi bay phần lớn bầu khí quyển của sao Hỏa trong vài tỷ năm.
After mapping cosmic radiation levels at various depths on Mars, researchers have concluded that any life within the first several meters of the planet’s surface would be killed by lethal doses of cosmic radiation.
Sau khi lập bản đồ mức bức xạ vũ trụ ở các độ sâu khác nhau trên sao Hỏa, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng bất kỳ sự sống nào trong vài mét đầu tiên của bề mặt hành tinh sẽ bị giết bởi lượng bức xạ vũ trụ chết người.
In 2007, it was calculated that DNA and RNA damage by cosmic radiation would limit life on Mars to depths greater than 7.5 metres below the planet’s surface.
Năm 2007, người ta tính toán rằng sự phá hủy DNA và RNA do bức xạ vũ trụ sẽ hạn chế sự sống trên sao Hỏa ở độ sâu hơn 7,5 mét dưới bề mặt hành tinh.
Therefore, the best potential locations for discovering life on Mars may be at subsurface environments that have not been studied yet.
Do đó, các vị trí tiềm năng nhất để khám phá sự sống trên sao Hỏa có thể là ở các môi trường dưới lớp bề mặt chưa được nghiên cứu.
Disappearance of the magnetic field may played an significant role in the process of Martian climate change.
Sự biến mất của từ trường có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình biến đổi khí hậu của sao Hỏa.
According to the valuation of the scientists, the climate of Mars gradually transits from warm and wet to cold and dry after magnetic field vanished.
Theo đánh giá của các nhà khoa học, khí hậu của sao Hỏa chuyển dần từ ấm áp và ẩm ướt sang lạnh và khô sau khi từ trường biến mất.
NASA’s recent missions have focused on another question: whether Mars held lakes or oceans of liquid water on its surface in the ancient past.
Các sứ mệnh gần đây của NASA đã tập trung vào một câu hỏi khác: Liệu trong quá khứ, trên bề mặt sao Hỏa có các hồ hoặc đại dương chứa đầy nước dạng lỏng hay không?
Scientists have found hematite, a mineral that forms in the presence of water.
Các nhà khoa học đã tìm thấy hematite, một khoáng chất hình thành khi có nước.
Thus, the mission of the Mars Exploration Rovers of 2004 was not to look for present or past life, but for evidence of liquid water on the surface of Mars in the planet’s ancient past.
Vì vậy, nhiệm vụ của Tàu thăm dò sao Hỏa năm 2004 không phải để tìm kiếm sự sống ở hiện tại hay quá khứ, mà là để tìm bằng chứng về nước ở thể lỏng trên bề mặt sao Hỏa trong quá khứ xa xưa của hành tinh.
Liquid water, necessary for Earth life and for metabolism as generally conducted by species on Earth, cannot exist on the surface of Mars under its present low atmospheric pressure and temperature, except at the lowest shaded elevations for short periods and liquid water does not appear at the surface itself.
Nước ở thể lỏng là thứ cần thiết cho sự sống trên Trái Đất và cho sự trao đổi chất nói chung của các loài trên Trái Đất, nó không thể tồn tại trên bề mặt của sao Hỏa trong điều kiện áp suất khí quyển và nhiệt độ rất thấp như hiện tại, ngoại trừ ở độ cao có bóng râm thấp nhất trong thời gian ngắn và nước ở thể lỏng không tự xuất hiện trên bề mặt.
In March 2004, NASA announced that its rover Opportunity had discovered evidence that Mars was, in the ancient past, a wet planet.
Vào tháng 3 năm 2004, NASA thông báo rằng con robot tự hành Opportunity đã phát hiện ra bằng chứng cho thấy sao Hỏa vào thời xa xưa từng là một hành tinh ẩm ướt.
This had raised hopes that evidence of past life might be found on the planet today.
Điều này đã làm dấy lên hi vọng rằng bằng chứng về sự sống trong quá khứ có thể được tìm thấy trên hành tinh ngày nay.
ESA confirmed that the Mars Express orbiter had directly detected huge reserves of water ice at Mars’ south pole in January 2004.
ESA xác nhận rằng vệ tinh Mars Express đã phát hiện ra trữ lượng nước đóng băng khổng lồ tại cực nam của sao Hỏa vào tháng 1 năm 2004.
Researchers from the Center of Astrobiology (Spain) and the Catholic University of the North in Chile have found an ‘oasis’ of microorganisms two meters below the surface of the Atacama Desert, SOLID, a detector for signs of life which could be used in environments similar to subsoil on Mars.
Các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Sinh vật học (Tây Ban Nha) và Đại học Công giáo phía Bắc ở Chile đã tìm thấy một 'ốc đảo' của các vi sinh vật ở độ sâu 2m dưới bề mặt sa mạc Atacama, SOLID, một thiết bị dò tìm các dấu hiệu của sự sống, có thể được sử dụng trong các môi trường tương tự dưới lòng đất trên sao Hỏa.
“We have named it a ‘microbial oasis’ because we found microorganisms developing in a habitat that was rich in rock salt and other highly hygroscopic compounds that absorb water” explained Victor Parro, researcher from the Center of Astrobiology in Spain.
Victor Parro - nhà nghiên cứu từ Trung tâm Sinh vật học ở Tây Ban Nha - giải thích: “Chúng tôi gọi nó là‘ ốc đảo vi sinh vật ’vì chúng tôi phát hiện ra rằng các vi sinh vật phát triển trong môi trường sống giàu muối mỏ và các hợp chất có độ hút ẩm cao khác có khả năng hấp thụ nước”.
“If there are similar microbes on Mars or remains in similar conditions to the ones we have found in Atacama, we could detect them with instruments like SOLID” Parro highlighted.
Parro nhấn mạnh: “Nếu có những vi khuẩn tương tự trên sao Hỏa hoặc ở trong môi trường tương tự như những vi khuẩn chúng tôi đã tìm thấy ở Atacama, chúng tôi có thể phát hiện ra chúng bằng các công cụ như SOLID”.
Even more intriguing, however, is the alternative scenario by Spanish scientists: If those samples could be found to that use DNA, as Earthly life does, as their genetic code.
Tuy nhiên, kịch bản thay thế của các nhà khoa học Tây Ban Nha còn hấp dẫn hơn nữa: Nếu những mẫu vật đó có mã di truyền DNA giống như sự sống trên Trái Đất.
It is extremely unlikely that such a highly specialised, complex molecule like DNA could have evolved separately on the two planets, indicating that there must be a common origin for Martian and Earthly life.
Rất khó có khả năng một phân tử phức tạp, chuyên biệt cao như DNA có thể tiến hóa riêng biệt trên hai hành tinh, Điều đó cho thấy rằng phải có một nguồn gốc chung cho sự sống trên Sao Hỏa và Trái Đất.
Life based on DNA first appeared on Mars and then spread to Earth, where it then evolved into the myriad forms of plants and creatures that exist today.
Sự sống dựa vào DNA xuất hiện đầu tiên trên sao Hỏa và rồi lan đến Trái Đất, sau đó nó tiến hóa thành vô số dạng thực vật và sinh vật tồn tại ngày nay.
If this was found to be the case, we would have to face the logical conclusion: we are all Martian.
Nếu điều này được chứng minh là sự thật, chúng ta sẽ có một kết luận: tất cả chúng ta đều là người sao Hỏa.
Từ vựng (14)
- astronomer (əˈstrɑː.nə.mɚ) — nhà thiên văn học
- Martian (ˈmɑːr.ʃən) — người sao Hỏa
- probe (proʊb) — thiết bị thăm dò
- lander (ˈlæn.dɚ) — tàu đổ bộ
- orbit (ˈɔːr.bɪt) — xoay quanh theo quy đão
- orbiter (ˈɔːr.bɪ.-t̬ɚ) — vệ tinh
- hemisphere (ˈhem.ə.sfɪr) — bán cầu
- fossilized (ˈfɑː.səl.aɪzd) — hóa thạch
- aqueous (ˈeɪ.kwi.əs) — thuộc nước
- metabolism (məˈtæb.əl.ɪ.zəm) — sự trao đổi chất
- mineral (ˈmɪn.ər.əl) — khoáng chất
- atmospheric (ˌæt.məsˈfer.ɪk) — thuộc khí quyển
- hygroscoptic (hygroscoptic*) — hút ẩm
- magnetic field (mæɡˈnet̬.ɪk) (fiːld) — từ trường