← Danh sách bài đọc
Bài 078
Origin of Species & Continent Formation
Nguồn gốc các loài và Sự hình thành lục địa
Nguồn: https://ieltssongngu.com
THE FACT THAT there was once a Pangean supercontinent, a Panthalassa Ocean, and a Tethys Ocean, has profound implications for the evolution of multicellular life on Earth.
THỰC TẾ LÀ đã từng có một siêu lục địa Pangean, Đại dương Panthalassa và Đại dương Tethys có ý nghĩa sâu sắc đối với sự tiến hóa của sự sống đa bào trên Trái đất.
These considerations were unknown to the scientists of the 19th century – making their scientific deductions even more remarkable.
Các nhà khoa học thế kỉ 19 vẫn chưa biết đến những điều này, điều này khiến những suy luận khoa học của họ càng đáng chú ý hơn.
Quite independently of each other, Charles Darwin and his young contemporary Alfred Russel Wallace reached the conclusion that life had evolved by natural selection.
Với những nghiên cứu hoàn toàn độc lập, Charles Darwin và Alfred Russel Wallace, nhà khoa học cùng thời với ông, đã đi đến kết luận rằng sự sống đã tiến hóa do chọn lọc tự nhiên.
Wallace later wrote in My Life of his own inspiration:
Wallace đã viết trong "My Life" về nguồn cảm hứng của chính mình
Why do some species die and some life?
Tại sao một số loài lại diệt vong trong khi một số khác vẫn tồn tại?
The answer was clearly that on the whole the best fitted lived.
Câu trả lời rất rõ ràng là về cơ bản, loài nào thích nghi tốt nhất, loài đó sẽ sống.
From the effects of disease the most healthy escaped; from enemies the strongest, the swiftest or the most cunning from famine the best hunters – then it suddenly flashed on me that this self-acting process would improve the race, because in every generation the inferior would inevitably be killed off and the superior would remain, that is, the fittest would survive.
Giống loài khỏe mạnh nhất sẽ thoát khỏi các cuộc tấn công của mầm bệnh; giống loài mạnh mẽ nhất sẽ thoát khỏi tay kẻ thù, giống loài nhanh nhẹn và khôn lanh nhất sẽ thoát khỏi cơn đói của những tay thợ săn cừ khôi - sau đó, một suy nghĩ lóe lên trong đầu tôi rằng quá trình tự hành động sẽ cải thiện nòi giống, bởi vì trong mỗi thế hệ, kẻ mạnh sẽ tồn tại trong khi kẻ yếu hơn sẽ không tránh được cảnh diệt vong; do đó, kẻ thích nghi tốt nhất sẽ tồn tại.
Both Darwin’s and Wallace’s ideas about natural selection had been influenced by the essays of Thomas Malthus in his Principles of Population.
Cả ý tưởng của Darwin và Wallace về chọn lọc tự nhiên đều bị ảnh hưởng bởi những bài luận về Quy luật Dân số của Thomas Malthus.
Their conclusion, however, had been the direct result of their personal observation of animals and plants in widely separated geographic locations:
Tuy nhiên, phần kết luận của họ là kết quả xuất phát trực tiếp từ quan sát cá nhân của mỗi người đối với các loài động vật và thực vật nằm ở những vị trí địa lý tự nhiên cách xa nhau.
Darwin from his experiences during the voyage of the Beagle, and particularly during the ship’s visit to the Galapagos Islands in the East Pacific in 1835; Wallace during his years of travel in the Amazon Basin and in the Indonesia-Australian Archipelago in the 1850s.
Darwin đưa ra kết luận từ kinh nghiệm của mình trong suốt chuyến hải hành trên tàu Beagle, đặc biệt là trong chuyến thăm quần đảo Galapagos ở phía Đông Thái Bình Dương năm 1835; còn Wallace là từ những năm tháng du hành ở lưu vực sông Amazon và quần đảo Indonesia-Úc trong những năm 1850.
Darwin had been documenting his ideas on natural selection for many years when he received a paper on this selfsame subject from Wallace, who asked for Darwin’s opinion and help in getting it published.
Darwin đã ghi lại những ý tưởng của mình về chọn lọc tự nhiên trong nhiều năm khi ông nhận được một bài báo về cùng chủ đề này từ Wallace, người đã hỏi ý kiến của Darwin và giúp đỡ ông trong việc xuất bản nó.
In July 1858, Charles Lyell and J. D Hooker, close friends of Darwin, pressed Darwin to present his conclusions so that he would not lose priority to an unknown naturalist.
Tháng 7 năm 1858, Charles Lyell và J. D Hooker, hai người bạn thân của Darwin ép Darwin trình bày kết luận của ông ấy để không bị mất quyền ưu tiên cho một nhà tự nhiên học vô danh.
Presiding over the hastily called but now historic meeting of the Linnean Society in London, Lyell and Hooker explained to the distinguished members how “these two gentlemen” (who were absent: Wallace was abroad and Darwin chose not to attend), had “independently and unknown to one another, conceived the same very ingenious theory,”
Chủ trì cuộc họp vội vã, nhưng hiện nay cuộc họp này được xem là cuộc họp lịch sử của Hiệp hội Linnean tại London, Lyell và Hooker đã giải thích cho các thành viên nổi bật về việc hai quý ông (hai người đã vắng mặt tại cuộc họp: Wallace đang ở nước ngoài và Darwin từ chối tham dự) đã độc lập và không quen biết nhau đã xây dựng nên cùng một học thuyết tài tình.
Both Darwin and Wallace had realized that the anomalous distribution of species in particular regions had profound evolutionary significance.
Cả Darwin và Wallace đều nhận ra rằng sự phân bố bất thường của các loài trong các vùng tự nhiên cụ thể mang ý nghĩa tiến hóa sâu sắc.
Subsequently, Darwin spent the rest of his days in almost total seclusion thinking and writing mainly about the origin of species.
Sau đó, Darwin gần như hoàn toàn ẩn dật để dành phần đời còn lại của mình suy nghĩ và viết về nguồn gốc của các loài.
In contrast, Wallace applied himself to the science of biogeography, the study of the pattern and distribution of species, and its significance, resulting in the publication of a massive two-volume work the Geographical Distribution of Animals in 1876.
Ngược lại, Wallace đã dấn thân vào ngành địa lý sinh học, nghiên cứu về các mô hình và sự phân bố của loài cùng với tầm quan trọng của chúng, dẫn đến việc cho ra đời một tác phẩm nghiên cứu đồ sộ "Sự phân bố theo địa lý của các loài động vật" gồm hai tập vào năm 1876
Wallace was a gentle and modest man, but also persistent and quietly courageous.
Wallace là một quý ông lịch thiệp và khiêm tốn, nhưng cũng kiên trì và dũng cảm một cách âm thầm.
He spent years working in the most arduous possible climates and terrains, particularly in the Malay archipelago, he made patient and detailed zoological observations and collected a huge number of specimens for museums and collectors-which is how he made a living.
Ông ấy đã dành rất nhiều năm để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tại những vùng có khí hậu và địa hình vô cùng khắc nghiệt ở quần đảo Mã Lai, quan sát một cách kiên nhẫn và chi tiết các loài vật, đồng thời thu thập một số lượng lớn các mẫu vật cho các bảo tàng và những nhà sưu tầm, đó cũng là cách mà Wallace đã kiếm sống.
One result of his work was the conclusion that there is a distinct faunal boundary, called “Wallace’s line,” between an Asian realm of animals in Java, Bronco and the Philipiones and an Australian realm in New Guinea and Australia.
Từ quá trình làm việc của mình, Wallace đã rút ra được kết luận về đường ranh giới phân chia các loài động vật, được gọi là "ranh giới Wallace", phân chia các loài động vật có nguồn gốc châu Á ở Java, Bronco và Philipines với các loài động vật có nguồn gốc Úc ở New Guinea và Úc
In essence, this boundary posed a difficult question: How on Earth did plants and animals with a clear affinity to the Northern Hemisphere meet with their Southern Hemispheric counterparts along such a distinct Malaysian demarcation zone?
Về bản chất, ranh giới Wallace đã đặt ra một câu hỏi hóc búa: "Làm thế nào mà các loài động, thực vật trên Trái Đất có mối quan hệ rõ ràng với Bắc bán cầu lại có thể gặp gỡ các loài ở Nam bán cầu dọc theo khu vực phân giới rõ rành Malaysia?
Wallace was uncertain about demarcation on one particular island-Celebes, a curiously shaped place that is midway between the two groups
Wallace không chắc chắn về việc phân định ranh giới trên hòn đảo Celebes, một nơi có hình dạng kỳ lạ nằm giữa hai nhóm động thực vật
Initially, he assigned its flora-fauna to the Australian side of the line, but later he transferred it to the Asian side.
Ban đầu, Wallace đã cho rằng hệ động thực vật ở đây có nguồn gốc từ Úc, nhưng sau đó ông ấy lại nghĩ rằng động thực vật tại đây có nguồn gốc từ châu Á.
Today we know the reason for his dilemma. 200MYA East and West Celebes were islands with their own natural history lying on opposite sides of the Tethys Ocean.
Ngày nay, ta đã biết được nguyên do đằng sau câu hỏi nan giải ấy. 200 triệu năm trước, Đông và Tây đảo Celebes là những hòn đảo với lịch sử tự nhiên riêng biệt nằm ở hai phía đối diện của đại dương Tethys
They did not collide until about 15 MYA.
Hai bờ Đông-Tây này không va chạm vào nhau cho đến khoảng 15 triệu năm trước.
The answer to the main question is that Wallace’s Line categorizes Laurasia-derived flora-fauna (the Asian) and Gondwana-derived flora-fauna (the Australian), fauna that had evolved on opposing shares of the Tethys.
Đáp án của câu hỏi lớn đó chính là Ranh giới Wallace đã phân loại động thực vật có nguồn gốc từ Laurasia (châu Á) và động thực vật có nguồn gốc từ Gondwana (Australia), các loài động vật đã tiến hóa dựa trên các phần đối lập với bờ bên kia biển Tethys.
The closure of the Tethys Ocean today is manifested by the ongoing collision of Australia/New Guinea with Indochina/Indonesia and the continuing closure of the Mediterranean Sea – a remnant of the Western Tethys Ocean.
Sự thu hẹp của đại dương Tethys ngày nay được thể hiện qua sự va chạm liên tục của các mảng lục địa Úc/New Guinea với Đông Dương/Indonesia và sự thu hẹp liên tục của biển Địa Trung Hải - tàn tích của phần phía Tây đại dương Tethys.
IN HIS ORIGIN OF CONTINENTS AND OCEANS, Wegener quoted at length from Wallace’s Geographical Distribution of Animals.
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của lục địa và đại dương", Wegener đã trích dẫn một phần khá dài từ tác phẩm của Wallace - "Sự phân bố theo địa lý của các loài động vật"
According to Wegener’s reading, Wallace had identified three clear divisions of Australian animals, which supported his own theory of continental displacement.
Theo những gì Wegener viết, Wallace đã xác định ra 3 khu vực phân chia rõ ràng của các loài động vật Úc, điều này đã hỗ trợ cho lý thuyết về sự trôi dạt lục địa của ông ấy.
Wallace had shown that animals long established in southwestern Australia had an affinity with animals in South Africa, Madagascar, India, and Ceylon, but did not have an affinity with those in Asia.
Wallace đã chỉ ra rằng các loài động vật đã cư trú lâu dài tại tại miền Tây Nam Úc có mối liên hệ với động vật tại Nam Phi, Madagascar, Ấn Độ và Ceylon, nhưng lại không hề có mối liên hệ nào với những loài tại châu Á.
Wallace also showed that Australian marsupials and monotremes are clearly related to those in South America, the Moluccas, and various Pacific islands and that none are found in neighboring Indonesia.
Wallace cũng chỉ ra rằng các loài thú có túi và động vật đơn bào của Úc có liên hệ rõ ràng với các loài tại Bắc Mỹ, quần đảo Maluku, và rất nhiều đảo ở Thái Bình Dương, trong khi các loài này không hề được tìm thấy tại nước làng giềng Indonesia.
From this and related data, Wegener concluded that the then broadly accepted “landbridge” theory could not account for this distribution of animals and that only this theory of continental drift could explain it.
Từ nhận định này và các dữ liệu liên quan, Wegener kết luận rằng lý thuyết “cầu lục địa” được chấp nhận rộng rãi sau đó không thể giải thích cho sự phân bố của các loài động vật này và chỉ có lý thuyết về sự trôi dạt lục địa này mới có thể giải thích được.
The theory that Wegener dismissed in preference to his own proposed that plants and animals had once migrated across now-submerged intercontinental landbridges.
Đó chính là giả thuyết mà Wegener bác bỏ để ưu tiên cho đề xuất của riêng mình rằng thực vật và động vật đã từng di cư qua các cầu đất liền liên lục địa mà hiện nay đang bị chìm trong nước.
In 1885, one of Europe’s leading geologists, Eduard Suess, theorized that as the rigid Earth cools, its upper-crust shrinks and wrinkles like the withering skin of an aging apple.
Năm 1885, một trong những nhà địa lý học hàng đầu châu Âu - Eduard Suess, đã đưa ra giả thuyết rằng Trái Đất đang cứng nhắc nguội dần, bề mặt của nó co lại và nhăn nheo như vỏ của một quả táo già.
He suggested that the planet’s seas and oceans now fill the wrinkles between once-contiguous plateaus.
Ông cho rằng biển và đại dương trên hành tinh hiện nay đã lấp đầy các khe nứt giữa những cao nguyên từng tiếp giáp với nhau
Today, we know that we live on a dynamic Earth with shifting, colliding and separating tectonic plates, not a “withering skin”, and the main debate in the field of biogeography has shifted.
Ngày nay, chúng ta biết rằng mình đang sống trên một Trái đất năng động với các mảng kiến tạo chuyển dịch, va chạm và phân tách, không phải là một “lớp da khô héo”, và cuộc tranh luận chủ yếu trong lĩnh vực địa lý sinh học đã thay đổi.
The discussion now concerns “dispersalism” versus “vicarianism”: unrestricted radiation of species on the one hand and the development of barriers to migration on the other.
Cuộc thảo luận về thuyết phân tán với thuyết phân chia: một mặt là sự phân tán không giới hạn của các loài, một mặt là sự phát triển của các rào cản đối với sự di cư của loài.
Dispersion is a short-term phenomenon – the daily or seasonal migration of species and their radiation to the limits of their natural environment on an extensive and continuous landmass.
Phân tán là một hiện tượng xảy ra trong thời gian ngắn hạn - sự di cư theo mùa hoặc hằng ngày của các loài và sự phân tán của chúng diễn ra xuyên qua giới hạn của môi trường tự nhiên trên một vùng đất rộng và liên tục.
Vicarian evolution, however, depends upon the separation and isolation of a variety of species within the confines of natural barriers in the form of islands, lakes, or shallow seas – topographical features that take a long time to develop.
Tuy nhiên, sự tiến hóa phân chia, phụ thuộc vào sự chia cách và tách biệt của nhiều loài trong những giới hạn có sẵn ngoài tự nhiên như hồ, đảo, hoặc các vùng biển nông - những đặc điểm địa hình cần nhiều thời gian để hình thành.
Từ vựng (18)
- supercontinent (n) (supercontinent*) (ˈɛn) — siêu lục địa
- multicellular (a) (ˌmʌl.tiˈsel.jə.lɚ) (ˈeɪ, ə) — đa bào
- deductions (n) (deductionsn*) — suy luận, suy diễn
- anomalous (a) (anomalousa*) — bất thường, không theo quy tắc
- seclusion (a) (seclusiona*) — tách biệt, ẩn dật
- biogeography (n) (biogeography*) (ˈɛn) — ngành địa lý sinh vật
- arduous (a) (arduousa*) — gian khổ, khó khăn
- zoological (a) (zoologicala*) — động vật học
- affinity (n) (affinityn*) — mối quan hệ, sự giống nhau về cấu trúc
- demarcation (n) (demarcationn*) — sự phân ranh giới
- dilemma (n) (daɪˈlem.ə) (ˈɛn) — tình trạng khó xử, tiến thoái lưỡng nan, nan giải
- collision (n) (collisionn*) — sự va chạm
- remnant (n) (remnantn*) — tàn tích, tàn dư, cái còn thừa lại
- marsupial (n) (mɑːrˈsuː.pi.əl) (ˈɛn) — thú có túi
- monotreme (n) (monotreme*) (ˈɛn) — động vật đơn huyệt
- withering (a) (witheringa*) — khô héo, úa tàn
- contiguous (kənˈtɪɡ.ju.əs) — tiếp giáp
- tectonic plate (n) (tectonicplate*) (ˈɛn) — mảng kiến tạo