← Danh sách bài đọc
Bài 080

Smell and Memory: Smell like yesterday

Mùi hương và kí ức: Ngỡ như ngày hôm qua

Why does the scent of a fragrance or the mustiness of an old trunk trigger such powerful memories of childhood? New research has the answer, writes Alexandra Witze.
Tại sao mùi hương nước hoa nhẹ nhàng hay mùi ẩm mốc của một thân gỗ già có thể khơi dậy những ký ức tuổi thơ mạnh mẽ đến vậy? Theo Alexandra Witze, nghiên cứu mới đã có câu trả lời.
You probably pay more attention to a newspaper with your eyes than with your nose.
Có lẽ bãn sẽ chú ý đến một tờ báo bằng mắt hơn là bằng mũi.
But lift the paper to your nostrils and inhale.
Nhưng hãy nâng tờ giấy lên mũi và hít vào.
The smell of newsprint might carry you back to your childhood, when your parents perused the paper on Sunday mornings.
Mùi của giấy in mới có thể đưa bạn trở lại thời thơ ấu, khi cha mẹ bạn đọc báo vào những sáng Chủ nhật.
Or maybe some other smell takes you back-the scent of your mother’s perfume, the pungency of a driftwood campfire.
Hoặc một số mùi hương khác có thể sẽ đưa bạn trở lại mùi nước hoa của mẹ bạn, mùi cay nồng của lửa trại gỗ lũa.
Specific odours can spark a flood of reminiscences.
Những mùi cụ thể có thể khơi dậy một loạt những hồi ức.
Psychologists call it the “Proustian phenomeno” after French novelist Marcel Proust.
Các nhà tâm lý học gọi nó là “hiện tượng Proustian” theo tên tiểu thuyết gia người Pháp Marcel Proust.
Near the beginning of the masterpiece In Search of Lost Time, Proust’s narrator dunks a madeleine cookie into a cup of tea and the scent and taste unleash a torrent of childhood memories for 3000 pages.
Gần phần đầu của kiệt tác In Search of Lost Time (Đi tìm thời gian đã mất), người kể chuyện của Proust nhúng một chiếc bánh quy madeleine vào một tách trà và mùi hương và hương vị khơi gợi lại dòng ký ức tuổi thơ trong 3000 trang.
Now, this phenomenon is getting the scientific treatment.
Hiện tượng này ngày nay đang được mang vào nghiên cứu khoa học.
Neuroscientists Rachel Herz, a cognitive neuroscientist at Brown University in Providence, Rhode Island, have discovered, for instance, how sensory memories are shared across the brain, with different brain regions remembering the sights, smells, tastes and sounds of a particular experience.
Nhà thần kinh học Rachel Herz, một nhà khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học Brown ở Providence, Rhode Island, đã khám phá ra cách thức các ký ức tạm thời được phân chia trên não bộ, các vùng não riêng biệt ghi nhớ lại hình ảnh, mùi, vị và âm thanh của một trải nghiệm cụ thể.
Meanwhile, psychologists have demonstrated that memories triggered by smells can be more emotional, as well as more detailed, than memories not related to smells.
Trong khi đó, các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng những ký ức được kích hoạt bởi mùi hương có thể mang nhiều cảm xúc hơn, cũng như chi tiết hơn những ký ức không liên quan đến mùi.
When you inhale, odour molecules set brain cells dancing within a region known as the imygdala ( E ) , a part of the brain that helps control emotion.
Khi bạn hít vào, các phân tử mùi thiết lập các tế bào não hoạt động trong một vùng được gọi là imygdala (E), một phần của não giúp kiểm soát cảm xúc.
In contrast, the other senses, such as taste or touch, get routed through other parts of the brain before reaching the amygdala.
Ngược lại, các giác quan khác, chẳng hạn như vị giác hoặc xúc giác, được chuyển qua các phần khác của não trước khi đến amygdala (hạch hạnh nhân).
The direct link between odours and the amygdala may help explain the emotional potency of smells.
Mối liên hệ trực tiếp giữa mùi và amygdala (hạch hạnh nhân) có thể giúp giải thích tác dụng cảm xúc của những mùi hương.
’’There is this unique connection between the sense of smell and the part of the brain that processes emotion,” says Rachel Herz.
Rachel Herz nói rằng: “Có mối liên hệ độc đáo giữa khứu giác và phần não xử lý cảm xúc"
But the links don’t stop there.
Nhưng các liên kết không dừng lại ở đó.
Like an octopus reaching its tentacles outward, the memory of smells affects other brain regions as well.
Giống như một con bạch tuộc vươn xúc tu ra ngoài, sự ghi nhớ mùi hương cũng ảnh hưởng đến các vùng não khác
In recent experiments, neuroscientists at University College London (UCL) asked 15 volunteers to look at pictures while smelling unrelated odours.
Trong các thí nghiệm gần đây, các nhà khoa học thần kinh tại Đại học College London (UCL) đã yêu cầu 15 tình nguyện viên xem những bức ảnh trong khi ngửi các mùi không liên quan.
For instance, the subjects might see a photo of a duck paired with the scent of a rose, and then be asked to create a story linking the two.
Ví dụ như những người này được xem một bức ảnh chụp một con vịt và ngửi hương thơm của hoa hồng, và sau đó được yêu cầu tạo một câu chuyện liên kết hai thứ đó.
Brain scans taken at the time revealed that the volunteers’ brains were particularly active in a region known as the factory cortex, which is known to be involved in processing smells.
Các bản chụp quét não bộ được thực hiện vào thời điểm đó cho thấy não của các tình nguyện viên đặc biệt hoạt động trong một khu vực được gọi là factory cortex, khu vực có liên quan đến quá trình xử lý mùi.
Five minutes later, the volunteers were shown the duck photo again, but without the rose smell.
Năm phút sau, các tình nguyện viên được cho xem lại ảnh con vịt nhưng không có mùi hoa hồng.
And in their brains, the olfactory cortex lit up again, the scientists reported recently.
Các nhà khoa học cho biết trong não của họ, olfactory cortex (vỏ khứu giác) đã sáng trở lại.
The fact that the olfactory cortex became active in the absence of the odour suggests that people’s sensory memory of events is spread across different brain regions.
Thực tế là vỏ khứu giác hoạt động khi không có mùi cho thấy bộ nhớ tạm thời của con người về các sự kiện được trải rộng trên các vùng não khác nhau.
Imagine going on a seaside holiday, says UCL team leader, Jay Gottfried.
Trưởng nhóm UCL, Jay Gottfried nói mọi người hãy tưởng tượng mình đang đi nghỉ bên bờ biển.
The sight of the waves becomes stored in one area, whereas the crash of the surf goes elsewhere, and the smell of seaweed in yet another place.
Hình ảnh của sóng được lưu giữ ở một vị trí, trong khi âm thanh của sóng được lưu giữ ở một nơi khác, và mùi rong biển được lưu giữ ở một nơi khác.
There could be advantageous to having memories spread around the brain.
Các ký ức được phân bổ khắp não bộ có thể mang lại những lợi ích.
’’You can reawaken that memory from any one of the sensory triggers,” says Gottfried.
“Bạn có thể làm sống lại các ký ức từ một trong các tín hiệu giác quan này,” Gottfried nói.
“Maybe the smell of the sun lotion, or a particular sound from that day, or the sight of a rock formation.”
“Có thể là mùi của kem chống nắng, hoặc một âm thanh cụ thể của ngày hôm đó, hoặc hình ảnh một tảng đá.”
Or – in the case of an early hunter and gatherer (out on a plain – the sight of a lion might be enough to trigger the urge to flee, rather than having to wait for the sound of its roar and the stench of its hide to kick in as well.
Hoặc - trong trường hợp của một người tiền sử đi săn và hái lượm (ở ngoài đồng bằng - thay vì phải đợi âm thanh gầm rú và mùi hôi của lớp da, chỉ cần nhìn thấy một con sư tử thôi cũng đủ khiến bạn muốn bỏ chạy )
Remembered smells may also carry extra emotional baggage, says Herz.
Những mùi được ghi nhớ cũng có thể mang thêm cảm xúc, Herz nói.
Her research suggests that memories triggered by odours are more emotional than memories triggered by other cues.
Nghiên cứu của cô cho thấy rằng những ký ức được kích hoạt bởi mùi có nhiều cảm xúc hơn những ký ức được kích hoạt bởi các tín hiệu khác.
In one recent study, Herz recruited five volunteers who had vivid memories associated with a particular perfume, such as opium for Women and Juniper Breeze from Bath and Body Works.
Herz đã tuyển năm tình nguyện viên tham gia vào một nghiên cứu gần đây, những người có ký ức sống động về một loại nước hoa cụ thể, chẳng hạn như mùi Opium for Women và Juniper Breeze của Bath and Body Works.
She took images of the volunteers’ brains as they sniffed that perfume and an unrelated perfume without knowing which was which.
Cô ấy đã chụp ảnh não của các tình nguyện viên khi họ ngửi mùi nước hoa đó và một loại nước hoa không liên quan mà họ không biết đó là loại nước hoa nào.
(They were also shown photos of each perfume bottle.)
(Họ cũng được cho xem ảnh của từng lọ nước hoa.)
Smelling the specified perfume activated the volunteers brains the most, particularly in the amygdala, and in a region called the hippocampus which helps in memory formation.
Não của các tình nguyện viên hoạt động tích cực nhất khi họ ngửi thấy mùi hương cụ thể, đặc biệt là ở amygdala (hạch hạnh nhân) và hippocampus (hải mã), giúp hình thành trí nhớ.
Herz published the work earlier this year in the journal Neuropsychologia.
Nghiên cứu của Herz đã được công bố trên tạp chí Neuropsychologia vào đầu năm nay.
But she couldn’t be sure that the other senses wouldn’t also elicit a strong response.
Tuy nhiên, cô không thể chắc chắn rằng các giác quan khác có tạo ra các phản ứng mạnh hư vậy hay không.
So in another study Herz compared smells with sounds and pictures.
Vì vậy, trong một nghiên cứu khác, Herz đã so sánh mùi với âm thanh và hình ảnh.
She had 70 people describe an emotional memory involving three items – popcorn, fresh-cut grass and a campfire.
Cô đã yêu cầu 70 người mô tả một kỷ niệm xúc động liên quan đến ba thứ - bỏng ngô, cỏ mới cắt và lửa trại.
Then they compared the items through sights, sounds and smells.
Sau đó, họ so sánh các đối tượng thông qua cảnh vật, âm thanh và mùi hương.
For instance, the person might see a picture of a lawnmower, then sniff the scent of grass and finally listen to the lawnmower’s sound.
Ví dụ: một người có thể nhìn thấy hình ảnh của chiếc máy cắt cỏ, sau đó ngửi mùi cỏ và cuối cùng lắng nghe âm thanh của chiếc máy cắt cỏ đó.
Memories triggered by smell were more evocative than memories triggered by either sights or sounds.
Những ký ức được kích hoạt bởi khứu giác có sức gợi nhiều hơn những ký ức được kích hoạt bởi cảnh vật hoặc âm thanh.
Odour-evoked memories may be not only more emotional, but more detailed as well.
Những ký ức gợi lên bằng mùi có thể không chỉ nhiều cảm xúc hơn mà còn chi tiết hơn.
Working with colleague John Downes, psychologist Simon Chu of the University of Liverpool started researching odour and memory partly because of his grandmother’s stories about Chinese culture.
Nhà tâm lý học Simon Chu của Đại học Liverpool đã bắt đầu nghiên cứu mùi hương và trí nhớ cùng với đồng nghiệp John Downes một phần là bởi vì những câu chuyện của bà mình về văn hóa Trung Quốc, .
As generations gathered to share oral histories, they would pass a small pot of spice or incense around; later, when they wanted to remember the story in as much detail as possible, they would pass the same smell around again.
Khi các thế hệ tụ họp lại để kể những C6u chuyện lịch sử, họ sẽ để một lọ gia vị hoặc hương trầm xung quanh; sau đó, khi họ muốn ghi nhớ câu chuyện một cách chi tiết nhất có thể, họ sẽ chuyển mùi tương tự xung quanh một lần nữa.
”It’s kind of fits with a lot of anecdotal evidence on how smells can be really good reminders of past experiences,” Chu says.
Ông Chu nói: “Nó phù hợp với rất nhiều giai thoại về việc mùi hương có thể trở thành điều gợi nhớ rõ về những trải nghiệm trong quá khứ."
And scientific research seems to bear out the anecdotes.
Và nghiên cứu khoa học dường như đã xác minh những giai thoại này.
In one experiment, Chu and Downes asked 42 volunteers to tell a life story, then tested to see whether odours such as coffee and cinnamon could help them remember more detail in the story. They could.
Trong một thí nghiệm, Chu và Downes yêu cầu 42 tình nguyện viên kể một câu chuyện cuộc đời, sau đó thử nghiệm để xem liệu mùi như cà phê và quế có thể giúp họ nhớ chi tiết hơn trong câu chuyện hay không. Và họ có thể.
Despite such studies, not everyone is convinced that Proust can be scientifically analysed.
Mặc dù có những nghiên cứu như vậy, nhưng không phải ai cũng tin rằng hiện tượng Proust có thể được phân tích một cách khoa học.
In the June issue of Chemical Senses, Chu and Downes exchanged critiques with renowned perfumer and chemist J.Stephan Jellinek.
Chu và Downes đã trao đổi các bài phê bình với nhà hóa học và nước hoa nổi tiếng J. Stephan Jellinek trong tạp chí Chemical Senses số tháng 6.