← Danh sách bài đọc
Bài 086

Longaeva: Ancient Bristlecone Pine

Longaeva: Loài thông lông nhọn cổ đại

Longaeva: Ancient Bristlecone Pine
Longaeva: Thông nón gai cổ
To understand more about the earth’s history, humans have often looked to the natural environment for insight into the past.
Để hiểu thêm về lịch sử trái đất, con người thường nhìn vào môi trường tự nhiên để hiểu rõ hơn quá khứ.
The bristlecone pine (Pinus longaeva), of the White Mountains in California, has served this purpose greater than any other species of tree on the planet.
Cây thông nón gai (Pinus longaeva), ở dãy White tại California, đã đáp ứng mục đích này tốt hơn bất kỳ loài cây nào khác trên hành tinh.
Conditions here are brutal: scant precipitation and low average temperatures mean a short growing season, only intensified by ferocious wind and mal-nutritious rocky
Điều kiện ở đây rất khắc nghiệt: lượng mưa ít và nhiệt độ trung bình thấp dẫn đến một mùa sinh trưởng ngắn, càng khó khăn hơn bởi gió dữ dội và những dãy núi đá gần như chẳng có chất dinh dưỡng.
Nevertheless, bristlecone pines have claimed these barren slopes as their permanent home
Tuy nhiên, những cây thông nón gai đã coi những sườn núi cằn cỗi này là nơi cư trú lâu dài của chúng.
Evolving here in this harsh environment, super-adapted and without much competition, bristlecones have earned their seat on the longevity throne by becoming the oldest living trees on the planet.
Phát triển trong môi trường khắc nghiệt này, thông nón gai, với khả năng siêu thích nghi và không có nhiều sự cạnh tranh, đã giành được vị trí của mình trên ngai vàng trường thọ bằng cách trở thành cây sống lâu đời nhất trên hành tinh.
Results of extensive studies on bristlecone pine stands have shown that in fact such, environmental limitations are positively associated with the attainment of great age.
Kết quả của các nghiên cứu quy mô lớn trên các quần thể thông nón gai đã chỉ ra rằng trên thực tế, những hạn chế về môi trường có liên quan tích cực đến việc đạt được tuổi thọ cao.
This intriguing phenomenon will be discussed further on.
Hiện tượng thú vị này sẽ được thảo luận thêm ở phần sau.
But exactly how old is old?
Nhưng chính xác thì bao nhiêu tuổi là già?
Sprouted before the invention of Egyptian hieroglyphs and long before the teachings of Jesus of Nazareth, Methuselah is the oldest bristlecone alive at roughly 4,700 years.
Nảy mầm từ trước khi chữ tượng hình của người Ai Cập được phát minh và rất lâu trước khi có những lời dạy của Chúa Giê-su thành Nazareth, Methuselah là cây thông nón gai cổ nhất còn sống với tuổi thọ xấp xỉ 4.700 năm.
Although specimens of this age do not represent the species’ average, there are 200 trees more than 3,000 years old, and two dozen more than 4,000.
Mặc dù các mẫu vật ở độ tuổi này không đại diện cho mức trung bình của loài, có 200 cây hơn 3000 năm tuổi và khoảng hai chục cây đã sống trên 4000 năm.
Considering that these high ages are obtained in the face of such remarkable environmental adversity, the bristlecone pines have become the focus of much scientific examination over the past half-century.
Xét thấy rằng các mức tuổi thọ cao này vẫn được đạt tới bất chấp điều kiện khắc nghiệt một cách Đáng chú ý của môi trường, các cây thông nón gai đã trở thành tâm điểm của nhiều nghiên cứu khoa học trong nửa thế kỷ qua.
Perhaps most interested in the bristlecone pine are dendrochronologists or tree-ring daters. .
Có lẽ, quan tâm nhất đến thông nón gai là các nhà nghiên cứu tuổi cây hoặc các nhà xác định niên đại vòng tuổi gỗ.
With every strenuous year that passes in the While Mountains, each bristlecone grows and forms a new outer layer of cambium that reflects a season’s particular ease or hardship
Sau mỗi năm vất vả trôi qua trên dãy White, mỗi cá thể thông nón gai phát triển và hình thành một lớp thượng tầng bên ngoài, một dấu hiệu phản ánh cụ thể điều kiện dễ dàng hay khắc nghiệt của từng mùa.
So while growing seasons may expand or shrink, the trees carry on, their growth rings faithfully recording the bad years alongside the goods.
Vì vậy, trong khi các mùa sinh trưởng có thể mở rộng hoặc thu hẹp, cây cối vẫn cứ tiếp tục phát triển, vòng sinh trưởng của chúng ghi lại một cách trung thực những cả những năm khó khăn lẫn những năm khắc nghiệt.
Through examining the annual growth rings of both living and dead specimens, taking thousands of core samples, and by processes of cross-dating between trees and other qualitative records, scientists have compiled a continuous tree-ring record that dates back to the last Ice Age between eight and ten thousand years ago.
Thông qua việc kiểm tra các vòng sinh trưởng hàng năm của cả mẫu vật sống và chết, lấy hàng nghìn mẫu lõi, và bằng quá trình xác định niên đại chéo giữa các cây và các ghi chép định tính khác, các nhà khoa học đã biên soạn một bản ghi chép liên tục niên đại của các vòng gỗ, khời đầu từ kỷ Băng hà cuối cùng cách nay tám đến mười nghìn năm
Among other linked accomplishments, this record has enhanced the dating process, helping to double-check and correct the radiocarbon-14 method to more accurately estimate the age of organic material.
Giữa nhiều thành tựu có liên quan khác, bản ghi chép này đã cải tiến quá trình xác định niên đại, giúp kiểm tra lại và hiệu chỉnh phương pháp định tuổi bằng đồng vị carbon phóng xạ -14 để ước tính chính xác hơn tuổi của vật liệu hữu cơ.
Now more than ever the importance of monitoring the bristlecone is being realized.
Hơn bao giờ hết tầm quan trọng của việc giám sát thông nón gai đang được nhận ra.
As our global climate continues to undergo its most recent and abrupt atmospheric change, these ancient scribes continue to respond.
Gần đây nhất, khi khí hậu toàn cầu tiếp tục trải qua một đợt thay đổi khí tượng đột ngột, những ghi chép cổ đại này tiếp tục đáp ứng.
Since, the rings of wood formed each year reveal the trees’ response to climatic conditions during a particular growing season, in their persistence they have left us natural recordings of the past, markers of the present, and clues to the future.
Vì các vòng tuổi gỗ hình thành mỗi năm cho thấy phản ứng của cây với điều kiện khí hậu trong một mùa sinh trưởng cụ thể, sự bền bỉ của các cây này đã để lại cho chúng ta những bản ghi tự nhiên về quá khứ, những dấu ấn của hiện tại và những manh mối về tương lai.
The species’ name originates from the appearance of its unusual cones and needles.
Tên của loài bắt nguồn từ sự xuất hiện của các hình nón và gai nhọn khác thường của nó.
The bristlecone’s short, pale needles are also trademarks, bunching together to form foxtail-like bundles.
Những chiếc kim ngắn, nhạt màu của thông nón gai cũng là đặc trưng cho loài, chúng chụm lại với nhau để tạo thành những bó giống như đuôi chồn. .
As is the case of most conifer needles, these specialized leaves cluster together to shelter the stomata so very little moisture is lost through them.
Như hầu hết các lá kim hạt trần, những lá chuyên biệt này tụ lại với nhau để che chở cho các khí khổng nên rất ít hơi nước thoát ra qua chúng.
This adaptation helps the bristlecone photosynthesize during particularly brutal months.
Sự thích nghi này giúp thông nón gai quang hợp trong những tháng thời tiết đặc biệt khắc nghiệt.
Saving the energy of constant needle replacement and providing a stable supply of chlorophyll.
Tiết kiệm năng lượng của việc thay kim liên tục và cung cấp nguồn chất diệp lục ổn định.
For a plant trying to store so much energy, bristlecone seeds are relatively large in size.
Đối với một loại cây cố gắng tích trữ nhiều năng lượng, thông nón gai có có kích thước tương đối lớn.
They are first reproduced when trees reach ages between thirty and seventy-five years old.
Chúng được sinh sản lần đầu khi cây đạt độ tuổi từ ba mươi đến bảy mươi lăm tuổi.
Germination rates are generally high, in part because seeds require little to no initial stratification.
Tỷ lệ nảy mầm thường cao, một phần là do hạt giống cần ít hoặc không cần phân tầng ban đầu.
Perhaps the most intriguing physical characteristic of a mature bristlecone, however, is its ratio of living to deadwood on harsh sites and how this relates to old age.
Tuy nhiên, có lẽ đặc điểm vật lý thú vị nhất của thông nón gai trưởng thành là tỷ lệ cây sống và cây chết tại các địa hình khắc nghiệt và sự liên quan của nó tới tuổi thọ cao của loài cây này.
In older trees, however, especially in individuals over 1,500 years, a strip-bark trait is adaptive.
Tuy nhiên, ở những cây già hơn, đặc biệt là ở những cá thể trên 1.500 năm tuổi, đặc tính tự tróc vỏ có tính thích ứng.
This condition occurs as a result of cambium dieback, which erodes and thereby exposes certain areas of the bole, leaving only narrow bands of bark intact
Tình trạng này xảy ra do tầng sinh gỗ bị chết dần mòn và do đó làm lộ ra một số khu vực nhất định của thân cây, chỉ để lại những dải vỏ hẹp nguyên vẹn.
The technique of cambial edge retreat has helped promote old age in bristlecone pine, but that certainly is no the only reason.
Kỹ thuật thoái dần mép tầng sinh gỗ đã giúp duy trì tuổi thọ ở thông nón gai, nhưng đó chắc chắn không phải là lý do duy nhất.
Most crucial to these trees’ longevity is their compact size and slow rates of growth.
Điều quan trọng nhất đối với tuổi thọ của những cây này là kích thước nhỏ gọn và tốc độ phát triển chậm của chúng.
By remaining in most cases under ten meters tall, bristlecones stay close to the limited water supply and can hence support more branches and photosynthesizing.
Bằng cách duy trì độ cao dưới mười mét trong phần lớn cuộc đời, các cây thông nón gai có thể ở gần nguồn cung cấp nước vốn hạn chế và do đó có thể hỗ trợ nhiều nhánh hơn cũng như cho quá trình quang hợp.
Combined with the dry, windy, and often freezing mountain air, slow growth guarantees the bristlecones tight, fibrous rings with a high resin content and structural strength.
Kết hợp với không khí khô, gió và thường xuyên đóng băng ở vùng núi, sự phát triển chậm đảm bảo cho thông nón gai có các vòng tuổi tuổi gỗ với các thớ dày đặc, hàm lượng nhựa cao và có kết cấu vững chắc.
The absence of natural disaster has also safeguarded the bristlecone’s lengthy lifespan.
Việc không có thảm họa tự nhiên cũng đã bảo vệ tuổi thọ lâu dài của thông nón gai.
Due to a lack of ground cover vegetation and an evenly spaced layout, bristlecone stands on the White Mountain peaks have been practically unaffected by the fire.
Vì thiếu lớp thảm thực vật trên mặt đất và có có sự phân bổ cách đều nhau giữa các cá thể, các quần thể thông nón gai trên đỉnh dãy White Mountains thực tế không bị ảnh hưởng bởi đám cháy.
This lack of vegetation also means a lack of competition for the bristlecones.
Sự thiếu lớp thả thực vật này cũng có nghĩa là giữa các cá thể thông nón gai sẽ không có sự cạnh tranh
Bristlecone pines restricted to numerous, rather isolated stands at higher altitudes in the southwestern United States.
Thông nón gai chỉ tồn tại theo các quần thể biệt lập ở các vùng núi cao khu vực Tây Nam Hoa Kỳ.
Stands occur from the Rocky Mountains, through the Colorado Plateau, to the western margin of the Great Basin.
Các quần thể này xuất hiện đầu tiên ở dãy Rocky, dần lan đến cao nguyên Colorado, rồi đến rìa phía tây của Đại Bồn địa.
Within this natural range, the oldest and most widely researched stands of bristlecones occur in California’s the White Mountains.
Trong phạm vi tự nhiên này, các quần thể thông nón gai lâu đời nhất và được nghiên cứu rộng rãi nhất mọc ở dãy White của California.
Even just 200 miles away from the Pacific Ocean, the White Mountains are home to one of this country’s few high-elevation deserts.
Dù chỉ cách Thái Bình Dương 200 dặm, dãy White vẫn có một trong số ít sa mạc của đất nước này có độ cao lớn nhất so với mực nước biển.
Located in the extreme eastern rain shadow of the Sierra Nevada, this region receives only 12.54 inches of precipitation per year and experiences temperatures between -20F and +50F.
Nằm trong vùng bóng mưa cực Đông của Sierra Nevada, khu vực này chỉ nhận được lượng mưa khoảng 12,54 inches mỗi năm và có nhiệt độ từ -20 độ F đến +50 độ F.
The peaks south of the Owens Valley, are higher up than they might appear from a distance.
Các đỉnh phía nam của Thung lũng Owens có độ cao lớn hơn nhiều so với khi nhìn từ xa.
Although most summits exist somewhere around 11,000 feet, snow-capped White Mountain Peak, for which the range is named, stands at 14,246 feet above sea level.
Mặc dù hầu hết các đỉnh núi cao tồn tại với độ cao khoảng 11.000 feet, đỉnh White phủ tuyết trắng, điều cũng là lí do đằng sau cái tên dãy núi, có độ cao 14.246 feet so với mực nước biển.
That said, to reach areas of a pure bristlecone is an intense journey all to itself.
Tuy nhiên, để tiếp cận các khu vực của một chủng thông nón gai thuần chủng là một cuộc hành trình khó khăn đối với chính nó.
With seemingly endless areas of wonder and interest, the bristlecone pines have become subject to much research over the past half-century.
Với những lĩnh vực ẩn chứa những kỳ thú và hấp dẫn dường như vô tận, cây thông lông cứng đã trở thành đối tượng của nhiều nghiên cứu trong nửa thế kỷ qua.
Since the annual growth of these ancient organisms directly reflects the climatic conditions of a particular time period, bristlecones are of greatest significance to dendrochronologists or tree-ring specialists.
Vì sự phát triển hàng năm của những sinh vật cổ đại này phản ánh trực tiếp các điều kiện khí hậu của một khoảng thời gian cụ thể, thông nón gai có vai trò lớn nhất đối với các nhà nghiên cứu về thời gian hoặc các chuyên gia về vòng tuổi gỗ.
Dating any tree is simple and can be done within reasonable accuracy just by counting out the rings made each year by the plant’s natural means of growth.
Việc xác định niên đại cho bất kỳ cây nào rất đơn giản và có thể được thực hiện với độ chính xác chấp nhận được chỉ bằng cách đếm các vòng được tạo ra mỗi năm bởi các hình thức phát triển tự nhiên của cây.
By carefully compiling a nearly 10,000-year-old bristlecone pine record, these patient scientists have accurately corrected the carbon-14 dating method and estimated ages of past periods of global climate change.
Bằng cách tổng hợp cẩn thận hồ sơ cây thông lông cứng gần 10.000 năm tuổi, các nhà khoa học kiên trì này đã hiệu chỉnh chính xác phương pháp xác định niên đại bằng đồng vị carbon-14 và tuổi ước tính của các giai đoạn biến đổi khí hậu toàn cầu trong quá khứ.

Từ vựng (14)

  • brutal (ˈbruː.t̬əl) — rất khắc nghiệt
  • scant precipitation (skænt) (priːˌsɪp.əˈteɪ.ʃən) — lượng mưa ít
  • mal-nutritious rocky (ˈmæɫ) (nuːˈtrɪʃ.əs) (ˈrɑː.ki) — đá có dinh dưỡng thấp
  • intriguing (ɪnˈtriː.ɡɪŋ) — hấp dẫn
  • gnarled wood (nɑːrld) (wʊd) — gỗ có xương xẩu
  • global warming. (ˈɡloʊ.bəl) (ˈwɔːr.mɪŋ) — sự nóng lên toàn cầu.
  • exceed (ɪkˈsiːd) — vượt quá
  • temperatures (ˈtɛmpɝətʃɝz, ˈtɛmpɹətʃɝz) — nhiệt độ
  • ancient organisms (ˈeɪn.ʃənt) (ˈɔɹɡəˌnɪzəmz) — sinh vật cổ đại
  • photosynthesizing. (ˌfoʊ.t̬oʊˈsɪn.θə.saɪz) — quang hợp
  • chlorophyll. (ˈklɔːr.ə.fɪl) — chất diệp lục
  • conifer needles (ˈkɑː.nə.fɚ) (ˈnidəɫz) — lá kim hạt trần
  • bizarre (bəˈzɑːr) — kỳ quái
  • Remarkable (rɪˈmɑːr.kə.bəl) — Đáng chú ý