← Danh sách bài đọc
Bài 088
Western Immigration of Canada
Sự nhập cư từ phía Tây vào Canada
Nguồn: https://ieltssongngu.com
By the mid-1870s Canada wanted an immigrant population of agricultural settlers established in the West.
Vào giữa những năm 1870, Canada mong muốn có một lượng dân nhập cư gồm những người định cư nông nghiệp ở phía Tây
No urban centres existed on the prairies in the 1870s, and rural settlement was the focus of the federal government’s attention.
Không có trung tâm đô thị nào đã tồn tại trên thảo nguyên vào những năm 1870 và việc định cư ở nông thôn đã là tâm điểm chú ý của chính phủ liên bang.
The western rural settlement was desired, as it would provide homesteads for the sons and daughters of eastern farmers, as eastern agricultural land filled to capacity.
Khu định cư nông thôn miền Tây được mong đợi, bởi vì nó sẽ cung cấp nhà cửa vườn tược cho con trai và con gái của những nhà nông miền Đông, khi đất nông nghiệp phía Đông đã hoàn toàn không còn sức chứa.
As well, eastern farmers and politicians viewed western Canada, with its broad expanses of unpopulated land, as a prime location for expanding Canada’s agricultural output, especially in terms of wheat production to serve the markets of eastern Canada.
Thêm vào đó, nông dân và các chính trị gia miền Đông đã nhìn nhận miền Tây Canada, với những dải đất mênh mông không có dân ở, là một vị trí đắc địa để mở rộng sản lượng nông nghiệp của Canada, đặc biệt là về sản lượng lúa mì để phục vụ thị trường phía đông của Canada.
To bolster Canada’s population and agricultural output, the federal government took steps to secure western land.
Để củng cố dân số và sản lượng nông nghiệp của Canada, chính phủ liên bang đã áp dụng các biện pháp để bảo vệ đất đai phía Tây.
The Dominion of Canada purchased Rupert’s Land from the Hudson’s Bay Company in 1870.
Nước tự trị Canada đã mua vùng đất của hoàng tử Rupert từ công ty Hudson’s Bay năm 1870.
In 1872, the federal government enacted the Dominion Lands Act.
Năm 1872, chính phủ liên bang đã ban hành đạo luật về quyền chiếm hữu đất.
This act enabled settlers to acquire 160 acres of free land, as long as settlers remained on their land for a period of three years, made certain minor improvements to the land, and paid a $10.00 registration fee.
đạo luật này cho phép những người định cư có được 160 mẫu đất miễn phí, miễn là họ vẫn định cư trên đất của mình trong khoảng thời gian 3 năm, thực hiện một vài cải tổ nhỏ đối với khu đất và trả lệ phí đăng ký $10.00.
The Canadian government also created a Mounted Police Force in 1873.
Chính phủ Canada cũng đã thành lập Lực lượng Cảnh sát Tuần mã năm 1873.
The Mounties journeyed west to secure the area for future settlers.
các thành viên cảnh sát Hoàng gia này đã đi về phía Tây để bảo vệ khu vực cho những người định cư trong tương lai.
By 1876 the NWMP had established themselves in the West.
Đến năm 1876 NWMP đã tự thành lập ở phía Tây.
The major posts included Swan River, Fort Saskatchewan, Fort Calgary, Fort Walsh and Fort Macleod.
Các vị trí đứng gác chính bao gồm Swan River, Fort Saskatchewan, Fort Calgary, Fort Walsh và Fort Macleod.
All of these initiatives attracted a number of eastern-Canadian settlers, as well as European and American immigrants, to Canada’s West, and particularly to the area of Manitoba.
Tất cả những sáng kiến này đã thu hút một lượng người định cư ở miền đông Canada, cũng như những người nhập cư châu Âu và Mỹ, đến miền Tây của Canada và đặc biệt là khu vực Manitoba.
The surest way to protect Canadian territory, and to achieve the secondary goal for joining British Columbia to the rest of the country, was to import large numbers of Eastern Canadian and British settlers.
Cách chắc chắn nhất để bảo vệ lãnh thổ Canada, và để đạt được mục tiêu thứ yếu là sát nhập tỉnh British Columbia với phần còn lại của đất nước, là sẽ nhập vào một số lượng lớn người định cư Đông Canada và Anh.
Settling the West also made imperative the building of a transcontinental railway.
Việc định cư ở phía Tây cũng đã làm cho việc xây dựng một tuyến đường sắt xuyên lục địa trở nên cấp bách.
The railway would work to create an east-west economy, in which western Canada would feed the growing urban industrial population of the east, and in return become a market for eastern Canadian manufactured goods.
Đường sắt sẽ hoạt động để tạo nên nền kinh tế Đông-Tây, trong đó miền Tây Canada sẽ sẽ nuôi sống dân số công nghiệp đô thị ngày càng tăng ở phía Đông, và đổi lại, nó sẽ trở thành thị trường cho hàng hóa sản xuất ở miền Đông Canada.
Winnipeg became the metropolis of the West during this period.
Winnipeg đã trở thành thủ phủ miền Tây trong suốt giai đoạn này.
Winnipeg’s growth before 1900 was the result of a combination of land speculation, growth of housing starts, and the federal government’s solution in 1881 of Winnipeg as a major stop along the CPR.
Sự phát triển của Winnipeg trước năm 1900 là kết quả của sự kết hợp giữa đầu cơ đất đai, sự tăng trưởng lượng nhà xây mới và giải pháp của chính phủ liên bang của Winnipeg năm 1881 như một điểm dừng chính trong CPR.
This decision culminated in a land boom between 1881 and 1883 which resulted in the transformation of hamlets like Portage la Prairie and Brandon into towns, and a large increase in Manitoba’s population.
Quyết định này đã đạt đỉnh điểm với sự tăng vọt đất đai giữa năm 1881 và 1883, điều mà dẫn đến sự chuyển đổi những ngôi làng nhỏ như Portage la Prairie và Brandon thành các thị trấn, và sự gia tăng lớn dân số của Manitoba.
Soon, Winnipeg stood at the junction of three transcontinental railway lines which employed thousands in rail yards.
Chẳng mấy chốc, Winnipeg đã đứng ở chỗ giao nhau của 3 tuyến đường sắt xuyên lục địa, nơi có hàng nghìn người làm việc ở các bãi để toa tàu.
Winnipeg also became the major processor of agricultural products for the surrounding hinterland.
Winnipeg cũng trở thành xưởng chế biến nông sản chính cho vùng nội địa xung quanh.
The majority of settlers to Winnipeg, and the surrounding countryside, during this early period, were primarily Protestant English-speaking settlers from Ontario and the British Isles.
Phần lớn những người định cư đến Winnipeg, và vùng nông thôn xung quanh, trong thời kỳ đầu này, chủ yếu là những người theo đạo Tin lành nói tiếng Anh từ Ontario và quần đảo Anh.
These settlers established Winnipeg upon a British-Ontarian ethos which came to dominate the society’s social, political, and economic spirit.
Những người định cư này đã thành lập Winnipeg dựa trên nét đặc biệt vùng Anh-Ontarian vốn đã chi phối tinh thần xã hội, chính trị và kinh tế.
This British-Ontarian ethnic homogeneity, however, did not last very long.
Tuy vậy, Tính đồng nhất sắc tộc Anh-Ontarian này đã không kéo dài lâu.
Increasing numbers of foreign immigrants, especially from Austria-Hungary and Ukraine soon added a new ethnic element to the recent British, the older First Nation Métis, and Selkirk’s settler population base.
Số lượng người nhập cư nước ngoài ngày càng tăng, đặc biệt là từ Áo-Hungary và Ukraine đã sớm đưa vào một yếu tố dân tộc mới cho thành phần dân số định người Anh gần đây, và xưa hơn là người gốc First Nation Métis và Selkirk.
Settling the West with (in particular) Eastern Canadians and British immigrant offered the advantage of safeguarding the 49th parallel from the threat of American take-over, had not the Minnesota legislature passed a resolution which provided for the annexation of the Red River district.
Định cư miền Tây với (đặc biệt) người Canada miền Đông và người Anh nhập cư mang lại lợi thế bảo vệ vĩ tuyến 49 khỏi mối đe dọa chiếm đóng của người Mỹ, nhưng cơ quan lập pháp Minnesota đã không thông qua một nghị quyết cho phép sáp nhập quận Red River.
The Red River in 1870 was the most important settlement on the Canadian prairies.
Vào năm 1870 Red River là khu định cư quan trọng nhất trên vùng thảo nguyên của Canada.
It contained 11,963 inhabitants of whom 9,700 were Métis and First Nations.
Nó chứa 11.963 cư dân trong đó 9.700 là người Métis và First Nations.
But neighbouring Minnesota already had a population of over 100,000.
Nhưng nước láng giềng Minnesota đã có dân số hơn 100.000 người.
Not all of the settlers who came to western Canada in the 1880s, however, desired to remain there.
Tuy nhiên, không phải tất cả những người định cư đến miền Tây Canada vào những năm 1880 đều mong muốn ở lại đó.
In the 1870s and 1880s, economic depression kept the value of Canada’s staple exports low, which discouraged many from permanent settlement in the West.
Trong những năm 1870 và 1880, suy thoái kinh tế đã giữ giá trị hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Canada ở mức thấp, khiến nhiều người không muốn định cư lâu dài ở miền Tây.
Countries including Brazil, Argentina, Australia, New Zealand and the United States competed with Canada for immigrants.
Các quốc gia bao gồm Brazil, Argentina, Australia, New Zealand và Hoa Kỳ đã cạnh tranh với Canada vì dân nhập cư.
Many immigrants and thousands of Canadians chose to settle in the accessible and attractive American frontier.
Nhiều người nhập cư và hàng ngàn người Canada đã chọn định cư ở biên giới Hoa Kỳ nơi dễ tiếp cận và hấp dẫn.
Canada before 1891 has been called “a huge demographic railway station” where thousands of men, women, and children were constantly going and coming, and where the number of departures invariably exceeded that of arrivals.”
Canada trước năm 1891 được coi là “nhà ga có sự thống kê nhân khẩu học khổng lồ”, nơi hàng nghìn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em liên tục đi và đến, và nơi số lượt rời đi luôn luôn vượt quá số lượt khách đến.”
By 1891 Eastern Canada had its share of both large urban centres and problems associated with city life.
Tại thời điểm năm 1891, miền Đông Canada đã có rất nhiều trung tâm đô thị lớn và các vấn đề gắn với cuộc sống thành phố.
While the booming economic centres of Toronto and Montreal were complete with electricity and telephones in the cities’ wealthiest areas by the turn of the century, slum conditions characterised the poorest areas like the district known as ‘the Ward’ in Toronto.
Trong khi các trung tâm kinh tế đang bùng nổ ở Toronto và Montreal đã có đầy đủ điện và điện thoại ở các khu vực giàu có nhất của các thành phố trước thềm thế kỷ này, thì tình trạng nhà ổ chuột lại đặc trưng cho những khu vực nghèo nhất như quận được biết đến là 'the Ward' ở Toronto.
Chickens and pigs ran through the streets; privy buckets spilled onto backyards and lanes creating cesspools in urban slums.
Gà, lợn chạy khắp phố phường; các thùng nhà xí tràn ra trong nội khu và các làn đường tạo thành những nơi ô uế trong các khu ổ chuột đô thị.
These same social reformers believed that rural living, in stark contrast to urban, would lead to a healthy, moral, and charitable way of life.
Cũng chính những nhà cải cách xã hội này tin rằng cuộc sống ở nông thôn, trái ngược hoàn toàn với thành thị, sẽ dẫn đến một lối sống lành mạnh, đạo đức và bác ái.
Social reformers praised the ability of fresh air, hard work, and open spaces for ‘Canadianizing’ immigrants.
Các nhà cải cách xã hội ca ngợi không khí trong lành, sự làm việc chăm chỉ, và không gian mở cho người nhập cư "Canada hoá".
Agricultural pursuits were seen as especially fitting for attaining this ‘moral’ and family-oriented way of life, in opposition to the single male-dominated atmosphere of the cities.
sự theo đuổi nông nghiệp được xem là đặc biệt phù hợp để đạt được lối sống ‘đạo đức’ và hướng về gia đình, đối lập với bầu không khí chỉ đơn độc có nam giới thống trị ở các thành phố.
Certainly, agriculture played an important part in the Canadian economy in 1891.
Chắc chắn, nông nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng cho nền kinh tế Canada vào năm 1891.
One-third of the workforce worked on farms.
Một phần ba lực lượng lao động làm việc ở các trang trại.
The Canadian government presented Canada’s attractions to potential overseas migrants in several ways.
Chính phủ Canada đã đưa ra những sự thu hút của Canada đối với những người di cư nước ngoài tiềm năng theo một vài cách.
The government offered free or cheap land to potential agriculturists.
Chính phủ đã cung cấp đất miễn phí hoặc đất rẻ cho những người làm nông nghiệp tiềm năng.
As well, the government established agents and/or agencies for the purpose of attracting emigrants overseas.
Thêm vào đó, chính phủ đã thành lập các đại lý và / hoặc cơ quan nhằm mục đích thu hút người di cư ra nước ngoài.
Assisted passage schemes, bonuses and commissions to agents and settlers and pamphlets also attracted some immigrants to Canada.
Các kế hoạch được hỗ trợ đi lại, tiền thưởng và tiền hoa hồng cho các đại lý và người định cư và tờ rơi cũng đã thu hút một số người nhập cư đến Canada.
The most influential form of attracting others to Canada, however, remained the letters home written by emigrants already in Canada.
Tuy nhiên, hình thức thu hút người khác đến Canada có ảnh hưởng nhất vẫn là những lá thư viết về nhà do những người di cư đã ở Canada viết.
Letters from trusted friends and family members.
Những bức thư từ bạn bè và thành viên gia đình đáng tin cậy.
Letters home often contained exaggerations of the ‘wonder of the new world.’
Những bức thư về nhà thường chứa đựng sự phóng đại về "kỳ quan của thế giới mới".
Migrant workers and settlers already in Canada did not want to disappoint, or worry, their family and friends at home.
Những người lao động di cư và định cư đã ở Canada rồi không muốn làm gia đình và bạn bè của họ ở quê nhà thất vọng, hay lo lắng.
Từ vựng (88)
- immigrant population (ˈɪm.ə.ɡrənt) (ˌpɑː.pjəˈleɪ.ʃən) — dân nhập cư
- emigrant (ˈem.ə.ɡrənt) — người di cư
- settler (ˈset.lɚ) — người định cư
- settlement (ˈset̬.əl.mənt) — việc định cư
- prairie (ˈprer.i) — thảo nguyên
- federal (ˈfed.ɚ.əl) — liên bang
- fill to capacity (fɪl) (tuː) (kəˈpæs.ə.t̬i) — lấp đầy sức chứa
- desire (dɪˈzaɪr) — mong đợi
- agricutural output (agricutural*) (ˈaʊt.pʊt) — sản lượng nông nghiệp
- homestead (ˈhoʊm.sted) — nhà cửa vườn tược
- prime location (praɪm) (loʊˈkeɪ.ʃən) — vị trí đắc địa
- take steps (teɪk) (ˈstɛps) — thực hiện các bước
- act (ækt) — đạo luật
- bolster (ˈboʊl.stɚ) — củng cố
- enable (ɪˈneɪ.bəl) — cho phép
- took steps to (tʊk) (ˈstɛps) (tuː) — đã làm các biện pháp để
- enact (ɪˈnækt) — ban hành
- Mounties (ˈmaʊniz, ˈmaʊntiz) — các thành viên cảnh sát Hoàng gia
- acquire (əˈkwaɪɚ) — có được
- registration (ˌredʒ.əˈstreɪ.ʃən) — đăng ký
- land speculation (lænd) (ˌspek.jəˈleɪ.ʃən) — đầu cơ
- Mounted Police Force (ˈmaʊn.t̬ɪd) (pəˈliːs) (fɔːrs) — Lực lượng Cảnh sát Tuần mã
- post (poʊst) — vị trí đứng gác
- initiative (ɪˈnɪʃ.ə.t̬ɪv) — sáng kiến
- land boom (lænd) (buːm) — sự tăng vọt đất đai
- territory (ˈter.ə.tɔːr.i) — lãnh thổ
- imperative (ɪmˈper.ə.t̬ɪv) — cấp bách
- transcontinental (ˌtrænˌskɑːn.t̬ənˈen.t̬əl) — xuyên lục địa
- and in return (ænd) (ˈɪn, ɪn) (rɪˈtɝːn) — và đổi lại
- ethnic homogeneity (ˈeθ.nɪk) (ˌhɑː.mə.dʒəˈneɪ.ə.t̬i) — tính đồng nhất dân tộc
- manufacture (ˌmæn.jəˈfæk.tʃɚ) — sản xuất
- population base (ˌpɑː.pjəˈleɪ.ʃən) (beɪs) — thành phần dân số
- legislation (ˌledʒ.əˈsleɪ.ʃən) — pháp luật
- metropolis (məˈtrɑː.pəl.ɪs) — thủ phủ
- speculation (ˌspek.jəˈleɪ.ʃən) — đầu cơ
- housing starts (ˈhaʊ.zɪŋ) (ˈstɑɹts) — nhà xây mới
- culminate (ˈkʌl.mə.neɪt) — đạt đỉnh điểm
- safeguard (ˈseɪf.ɡɑːrd) — giữ gìn, bảo vệ
- economic depression (ˌiː.kəˈnɑː.mɪk) (dɪˈpreʃ.ən) — suy thoái kinh tế
- hamlet (ˈhæm.lət) — ngôi làng nhỏ
- junction (ˈdʒʌŋk.ʃən) — chỗ giao nhau
- permanent (ˈpɝmənənt) — lâu dài
- rail yard (reɪl) (jɑːrd) — bãi để toa tàu
- have your share of (hæv) (jʊr) (ʃer) (əv) — có nhiều hơn là đủ
- hinterland (ˈhɪn.t̬ɚ.lænd) — vùng nội địa
- complete (kəmˈpliːt) — đầy đủ
- Protestant (ˈprɑː.t̬ɪ.stənt) — người theo đạo Tin lành
- ethos (ˈiː.θɑːs) — nét đặc biệt
- dominate (ˈdɑː.mə.neɪt) — chi phối
- privy bucket (ˈprɪv.i) (ˈbʌk.ɪt) — thùng nhà xí
- homogeneity (ˌhɑː.mə.dʒəˈneɪ.ə.t̬i) — Tính đồng nhất
- the advantage of (ðiː) (ədˈvæn.t̬ɪdʒ) (əv) — lợi thế
- in stark contrast to (ˈɪn, ɪn) (stɑːrk) (ˈkɑːn.træst) (tuː) — khác hoàn toàn với
- inhabitant (ɪnˈhæb.ɪ.tənt) — cư dân
- depression (dɪˈpreʃ.ən) — suy thoái
- scheme (skiːm) — kế hoạch
- bonus (ˈboʊ.nəs) — tiền thưởng
- staple (ˈsteɪ.pəl) — chủ lực
- accessible (əkˈses.ə.bəl) — dễ tiếp cận
- departure (dɪˈpɑːr.tʃɚ) — lượt rời đi
- invariably (ɪnˈver.i.ə.bli) — luôn luôn
- letters home (ˈɫɛtɝz) (hoʊm) — thư về nhà
- exaggeration (ɪɡˌzædʒ.əˈreɪ.ʃən) — sự phóng đại
- slum (slʌm) — nhà ổ chuột
- characterise (ˈker.ək.tɚ.aɪz) — đặc trưng cho
- embellished tale (ɪmˈbel.ɪʃ) (teɪl) — câu chuyện được thêm thắt
- spill (spɪl) — tràn ra
- cesspool (ˈses.puːl) — nơi ô uế
- reformer (rɪˈfɔːr.mɚ) — nhà cải cách
- praise (preɪz) — ca ngợi
- pursuit (pɚˈsuːt) — sự theo đuổi
- attain (əˈteɪn) — đạt được
- workforce (ˈwɝːk.fɔːrs) — lực lượng lao động
- several (ˈsev.ɚ.əl) — một vài
- offer (ˈɑː.fɚ) — cung cấp
- agriculturist (agriculturist*) — người làm nông nghiệp
- commission (kəˈmɪʃ.ən) — tiền hoa hồng
- frontier (frʌnˈtɪr) — biên giới
- pamphlet (ˈpæm.flət) — tờ rơi
- disappoint (ˌdɪs.əˈpɔɪnt) — thất vọng
- Embellish (ɪmˈbel.ɪʃ) — thêm thắt
- good fortune (ɡʊd) (ˈfɔːr.tʃuːn) — vận may
- the 49th parallel (ðə) (ˈtiˈeɪtʃ) (ˈper.ə.lel) — vĩ tuyến 49
- take-over (teɪk) (ˈoʊ.vɚ) — chiếm đóng
- legislature (ˈledʒ.ə.slə.tʃɚ) — cơ quan lập pháp
- resolution (ˌrez.əˈluː.ʃən) — nghị quyết
- annexation (ˌæn.ekˈseɪ.ʃən) — sáp nhập
- The Dominion of Canada (ðə) (dəˈmɪn.jən) (əv) (ˈkæn.ə.də) — Nước tự trị Canada