← Danh sách bài đọc
Bài 090
British Architecture 2
Kiến Trúc Anh 2
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Architecture is about evolution, not revolution
Kiến trúc là một sự tiến hóa, không phải cuộc cách mạng
It used to be thought that once the Romans pulled out of Britain in the fifth century, their elegant villas, carefully-planned towns and engineering marvels like Hadrian’s Wall simply fell into decay as British culture was plunged into the Dark Ages
Người ta từng cho rằng một khi người La Mã rời khỏi Anh vào thế kỉ năm, những ngôi biệt thự sang trọng, những thị trấn được quy hoạch cẩn thận và những kỳ quan kỹ thuật như bức tường Hadrian đơn giản chỉ bị suy tàn khi văn hóa Anh rơi vào thời kỳ tăm tối
It took the Norman Conquest of 1066 to bring back the light, and the ố othic cathedral-builders of the Middle Ages played an important part in the revival of British culture.
Mãi tới cuộc chinh phạt Norman năm 1066 để mang lại ánh sáng, và các nhà xây dựng nhà thờ kiểu gô-tích của thời Trung cổ đóng một phần vai trò quan trọng trong việc phục hồi văn hóa Anh
However, the truth is not as simple as that Romano-British culture – and that included architecture along with language, religion, political organization and the arts – survived long after the Roman withdrawal
Tuy nhiên, sự thật không đơn giản như nền văn hóa Roma-Anh và nền văn hóa bao gồm kiến trúc cùng với ngôn ngữ, tôn giáo, tổ chức chính trị và nghệ thuật đã tồn tại lâu sau khi La Mã rút lui
And although the Anglo- Saxons had a sophisticated building style of their own, little survives to bear witness to their achievements as the vast majority of Anglo-Saxon buildings were made of wood.
Và mặc dù người Anglo-Saxons đã có phong cách xây dựng phức tạp riêng của họ, rất ít người sống sót để chứng kiến những thành tựu của họ vì phần lớn các tòa nhà Angolo-Saxon được làm bằng gỗ.
Even so, the period between the Norman landing at Pevensey in 1066 and the day in 1485 when Richard III lost his horse and his head at Bosworth, ushering in the Tudors and the Early Modern period, marks a rare flowering of British building.
Mặc dù vậy, khoảng thời gian giữa cuộc đổ bộ của người Norman vào Pevensey vào năm 1066 và vào ngày mà Richard III mất ngựa và đầu ở Bosworth năm 1485, mở ra thời kỳ Tudors và thời kỳ cận đại, đánh dấu sự nở rộ hiếm hoi của kiến trúc Anh.
And it is all the more remarkable because the underlying ethos of medieval architecture was ‘fitness for purpose’.
Và điều này càng đáng chú ý hơn bởi vì đặc tính cơ bản của kiến trúc thời Trung cổ là ‘sự phù hợp với mục đích’
The great cathedrals and parish churches that lifted up their towers to heaven were not only acts of devotion in stone; they were also fiercely functional buildings
Những nhà thờ lớn và nhà thờ giáo xứ đã nâng những tòa tháp của họ lên thiên đường không chỉ bằng việc tận tụy sắp xếp những viên đá mà chúng còn là những tòa nhà có chức năng riêng đặc biệt.
Castles served their particular purpose and their battlements and turrets were for use rather than ornament
Các tòa lâu đài phục vụ cho mục đích đặc biệt, tường thành và tháp cốt của chúng được sử dụng thay vì để trang trí
In a sense, the buildings of the 16th century were also governed by fitness for purpose – only now, the purpose was very different
Theo một nghĩa nào đó, các tòa nhà của thế kỷ 16 cũng được điểu chỉnh bởi mục đích phù hợp- chỉ là bây giờ, mục đích này đã rất khác.
In domestic architecture, in particular, buildings were used to display status and wealth.
Đặc biệt, trong kiến trúc trong nước, các tòa nhà được sử dụng để thể hiện địa vị và sự giàu có
This stately and curious workmanship showed itself in various ways
Tay nghề làm việc trang nghiêm và lạ lùng này đã tự thể hiện theo nhiều cách khác nhau
A greater sense of security led to more outward-looking buildings, as opposed to the medieval arrangement where the need for defense created houses that faced inward onto a courtyard or series of courtyards
Một cảm giác an toàn lớn hơn tạo ra những tòa nhà có hướng nhìn ra bên ngoài hơn, trái ngược với sự sắp xếp thời trung cổ thời kỳ có nhu cầu phòng thủ đã tạo ra những ngôi nhà hướng nội vào trong một cái sân hoặc hàng loạt sân.
This allowed for much more in the way of exterior ornament.
Điều này cho phép việc trang trí bên ngoài nhiều hơn
The rooms themselves tended to be bigger and lighter – as an expensive commodity, the use of great expanses of glass was in itself a statement of wealth
Bản thân các phòng cũng có xu hướng lớn hơn và tươi sáng hơn như một mặt hàng đắt tiền, việc sử dụng nhiều kính là một biểu hiện của sự giàu có
There was also a general move towards balanced and symmetrical exteriors with central entrances.
Cũng có một động thái tổng thể hướng tới sự cân bằng và cân đối ở bên ngoài với các lối vào trung tâm
With the exception of Inigo Jones (1573-1652), whose confident handling of classical detail and proportion set him apart from all other architects of the period, most early 17th century buildings tended to take the innocent exuberance of late Tudor work one step further
Ngoại trừ Inigo Jones (1573-1652), người tự tin xử lý các chi tiết và tỉ lệ cổ điển đã tạo nên sự khác biệt với tất cả các kiến trúc sư khác trong thời kỳ đó, hầu hết các tòa nhà ở thế kỉ 17 có xu hướng làm tăng thêm sự thơ mộng hoa mỹ cho các công trình sau triều đại Tudor.
But during the 1640s and 50s the Civil War and its aftermath sent many gentlemen and nobles to the Continent either to escape the fighting or, when the war was lost, to follow Charles II into exile
Nhưng trong những năm 1640 và 50, cuộc nội chiến và hậu chiến đã khiến nhiều quý ông và gia đình quý tộc đến lục địa để thoát khỏi cuộc chiến, hoặc khi cuộc chiến thất bại thì theo Charles II đi lưu vong
There they came into contact with French, Dutch and Italian architecture and, with Charles’s restoration in 1660, there was a flurry of building activity as royalists reclaimed their property and built themselves houses reflecting the latest European trends.
Ở đó, họ đã tiếp xúc với kiến trúc Pháp, Hà Lan và Ý và cùng với việc Charles phục hồi chế độ vào năm 1660, đã có một loạt các hoạt động xây dựng khi các hoàng tộc giành lại tài sản của họ và tự xây dựng nhà phản ánh xu hướng mới nhất của châu Âu.
The British Baroque was a reassertion of authority, an expression of absolutist ideology by men who remembered a world turned upside down during the Civil War.
Baroque Anh là một sự tái khẳng định quyền lực, một biểu hiện của hệ tư tưởng tuyệt đối của những người nhớ đến một thế giới đảo lộn trong cuộc nội chiến.
The style is heavy and rich, sometimes overblown and melodramatic.
Phong cách này nặng nề và phong phú, đôi khi cường điệu và kịch tính .
The politics which underpin it are questionable, but its products are breathtaking.
Việc phong cách này lấy chính trị làm nòng cốt là điều đáng nghi ngờ, nhưng sản phẩm của nó thật đáng kinh ngạc.
The huge glass-and-iron Crystal Palace, designed by Joseph Paxton to house the Great Exhibition of 1851, shows another strand to 19th century architecture – one which embraced new industrial processes
Cung điện pha lê khổng lồ bằng kính và sắt, được thiết kế bởi Joseph Paxton để chứa đựng Triển lãm vĩ đại năm 1851, cho thấy một kiến trúc thế kỉ 19 khác đã bao gồm các quy trinh công nghiệp mới
But it wasn’t long before even this confidence in progress came to be regarded with suspicion
Viêc tự tin về sự tiến bộ này cũng được xem là đáng ngờ không lâu sau đó.
Mass production resulted in buildings and furnishings that were too perfect, as the individual craftsman no longer had a major role in their creation
Việc sản xuất hàng loạt dẫn đến các tòa nhà và đồ nội thất quá hoàn hảo, vì từng người thợ thủ công không còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chúng
Railing against the dehumanising effects of industrialisation, reformers like John Ruskin and William Morris made a concerted effort to return to hand-crafted, pre-industrial manufacturing techniques.
Chống lại những tác động vô nhân đạo của công nghiệp hóa, những nhà cải cách như John Ruskin và William Morris đã nỗ lực phối hợp để quay trở lại các kỹ thuật sản xuất thủ công, tiền công nghiệp
Morris’s influence grew from the production of furniture and textiles, until by the 1880s a generation of principled young architects was following his call for good, honest construction.
Ảnh hưởng của Morris tăng lên từ việc sản xuât đồ nội thất và dệt may, cho đến những năm 1880 một thế hệ các kiến trúc sư trẻ nguyên tắc đã nghe theo lời kêu gọi về việc xây dựng đẹp công trình và trung thực.
The most important trends in early 20th century architecture simply passed Britain by
Những xu hướng quan trọng nhất trong kiến trúc đầu thế kỷ 20 chỉ đơn giản lướt qua nước Anh mà không để lại dấu ấn gì.
Whilst Gropius was working on cold, hard expanses of glass, and Le Corbusier was experimenting with the use of reinforced concrete frames, we had staid establishment architects like Edwin Lutyens producing Neo-Georgian and Renaissance country houses for an outmoded landed class
Trong khi Gropius đang làm việc trên những dải kính mở rộng cứng và lạnh, và Le Corbusier đang thử nghiệm việc sử dụng các khung bê tông cốt thép cố định, chúng tôi đã có những kiến trúc sư thành lập như Edwin Lutyens, người xây dựng những ngôi nhà vùng quê theo phong cách Neo-Georgian và thời phục hưng cho một tầng lớp quý tộc sở hữu đất lỗi thời.
In addition there were slightly batty architect-craftsmen, the heirs of William Morris, still trying to turn the clock back to before the Industrial Revolution by making chairs and spurning new technology.
Ngoài ra, có những kiến trúc sư- thợ thủ công có tính cách hơi gàn dở, những người kế tục sự nghiệp của William Morris, vẫn cố gắng quay ngược thời gian lại trước cuộc cách mạng công nghiệp bằng cách tạo ra những chiếc ghế và bác bỏ công nghệ mới.
Only a handful of Modern Movement buildings of any real merit were produced here during the 1920s and 1930s, and most of these were the work of foreign architects such as Serge Chermayeff, Berthold Lubetkin and Erno Goldf inger who had settled in this country.
Chỉ có một vài tòa nhà theo kiến trúc hiện đại có giá trị thực sự được xây dựng tại đây trong những năm 1920 và 1930, và hầu hết chúng là tác phẩm của kiến trúc sư nước ngoài như Chermayeff, Berthold Lubetkin và Erno Goldf inger, những người đã định cư tại đất nước này
After the Second World War the situation began to change
Sau chiến tranh thế giới thứ II tình hình bắt đầu thay đổi
The Modern Movement’s belief in progress and the future struck a chord with the mood of post-war Britain and, as reconstruction began under Attlee’s Labour government in 1945, there was a desperate need for cheap housing which could be produced quickly.
Niềm tin của phong trào hiện đại về tiến bộ và tương lai đã gây ra xung đột với tâm trạng của nước Anh sau chiến tranh, và khi việc tái thiết bắt đầu dưới thời chính phủ Công Đảng của Attlee vào năm 1945, nhu cầu về nhà ở giá rẻ có thể được sản xuất nhanh chóng
The use of prefabricated elements, metal frames, concrete cladding and the absence of decoration – all of which had been embraced by Modernists abroad and viewed with suspicion by the British -were adopted to varying degrees for housing developments and schools
Việc sử dụng các vật chế tạo trước, khung kim loại, tấm ốp bê tông và sự thiếu trang trí – tất cả đều được những người theo chủ nghĩa Hiện Đại ở nước ngoài chấp nhận và bị người Anh xem với sự nghi ngờ - đã được áp dụng ở các mức độ khác nhau để phát triển nhà ở và trường học
Local authorities, charged with the task of rebuilding city center, became important patrons of architecture.
Chính quyền địa phương, chịu trách nhiệm xây dựng lại trung tâm thành phố, đã trở thành người bảo trợ quan trọng cho kiến trúc.
This represented a shift away from the private individuals who had dominated the architectural scene for centuries.
Điều này đại diện cho một sự chuyển hướng khỏi các tổ chức tư nhân, những người đã thống trị lĩnh vực kiến trúc trong nhiều thế kỷ.
Since the War it has been corporate bodies like these local authorities, together with national and multinational companies, and large educational institutions, which have dominated British architecture.
Kể từ chiến tranh, các tổ chức doanh nghiệp như chính quyền địa phương, cùng với các công ty quốc gia, và đa quốc gia và các tổ chức giáo dục lớn đã thống trị kiến trúc Anh.
By the late 1980s the Modern Movement, unfairly blamed for the social experiments implicit in high- rise housing, had lost out to irony and spectacle in the shape of post-modernism, with its cheerful borrowings from anywhere and any period.
Vào cuối những năm 1980, Phong trào hiện đại, bị đổ lỗi một cách bất công trong các thí nghiệm xã hội tiềm ẩn trong những ngôi nhà cao tầng, đã thất thế trước cảnh tượng trớ trêu và kỳ cục dưới hình thức chủ nghĩa hậu hiện đại, với sự vay mượn vui vẻ từ bất kỳ đâu và bất kỳ thời kỳ nào
But now, in the new Millennium, even post-modernism is showing signs of age. What comes next? Post-post-modernism?
Nhưng bây giờ, trong thiên niên kỷ mới, ngay cả chủ nghĩa hậu hiện đại cũng đang cho thấy dấu hiện của tuổi già. Tiếp theo là gì? Chủ nghĩa hậu hậu hiện đại?
Từ vựng (4)
- ornament (v,n) (ˈɔːr.nə.mənt) (vn*) — trang trí
- concrete cladding (n) (ˈkɑːn.kriːt) (ˈklæd.ɪŋ) (ˈɛn) — tấm ốp bê tông
- Renaissance (n) (ˈren.ə.sɑːns) (ˈɛn) — thời kỳ phục hưng
- handful (n) (ˈhænd.fʊl) (ˈɛn) — một vài