← Danh sách bài đọc
Bài 092

Ancient Storytelling

CÁCH KỂ CHUYỆN CỦA NGƯỜI XƯA

ANCIENT STORYTELLING
CÁCH KỂ CHUYỆN CỦA NGƯỜI XƯA
It was told, we suppose, to people crouched around a fire: a tale of adventure, most likely-relating some close encounter with death; a remarkable hunt, an escape from mortal danger; a vision, or something else out of the ordinary.
Chúng tôi cho rằng, những câu chuyện được kể cho mọi người khi họ ngồi quay quần xung quanh đống lửa là: câu chuyện về một cuộc phiêu lưu, nhiều khi là những cuộc chạm trán cam go gần kề cái chết; một cuộc đi săn lớn, một cuộc chạy trốn khỏi nguy hiểm sinh tử; hoặc một điều gì đó khác thường.
Whatever its thread, the weaving of this story was done with a prime purpose.
Cho dù chủ đề của nó là gì, việc thêu dệt câu chuyện này được thực hiện với một mục đích chính.
The listeners must be kept listening.
Đó là khiến cho những người ngồi đó phải tập trung lắng nghe.
They must not fall asleep.
Và nó giữ cho họ không ngủ gục đi.
So, as the story went on, its audience should be sustained by one question above all.
Và thế là, trong khi câu chuyện vẫn đang tiếp diễn, những khán giả ngồi nghe cần phải được duy trì một câu hỏi trên hết.
What happens next?
Sau đó điều gì đã xảy ra?
The first fireside stories in human history can never be known.
Người ta không bao giờ có thể biết được câu chuyện bên bếp lửa đầu tiên trong lịch sử như thế nào.
They were kept in the heads of those who told them.
Chúng được lưu giữ trong trí nhớ của những người kể ra chúng.
This method of storage is not necessarily inefficient.
Phương pháp lưu giữ này không hẳn là không hữu hiệu.
From documented oral traditions in Australia, the Balkans and other parts of the world we know that specialised storytellers and poets can recite from memory literally thousands of lines, in verse or prose, verbatim-word for word.
Nhờ những câu chuyện truyền miệng được ghi lại ở Úc, Balkans và các nơi khác trên thế giới, chúng ta biết được rằng những người chuyên kể chuyện và những nhà thơ có thể kể nguyên văn từng chữ hàng ngàn dòng thơ, chỉ từ trí nhớ của họ.
But while memory is rightly considered an art in itself, it is clear that a primary purpose of making symbols is to have a system of reminders or mnemonic cues – signs that assist us to recall certain information in the mind’s eye.
Nhưng trong khi chính Trí nhớ được xem như một thứ nghệ thuật, thì rõ ràng mục đích chính của việc tạo ra các ký hiệu là để tạo nên một hệ thống nhắc nhở hoặc tín hiệu ghi nhớ - những dấu hiệu mà sẽ giúp chúng ta hồi tưởng lại một vài thông tin nhất định trong Trí nhớ.
In some Polynesian communities, a notched memory stick may help to guide a storyteller through successive stages of recitation.
Ở một số cộng đồng người Polynesia, một thanh ghi nhớ có thể giúp dẫn dắt người kể chuyện qua các giai đoạn kể chuyện liên tiếp.
But in other parts of the world, the activity of storytelling historically resulted in the development or even the invention of writing systems.
Nhưng ở những vùng khác trên thế giới, trong lịch sử, hoạt động kể chuyện đã dẫn đến sự phát triển hoặc thậm chí là phát minh ra hệ thống chữ viết.
One theory about the arrival of literacy in ancient Greece, for example, argues that the epic tales about the Trojan War and the wanderings of Odysseus – traditionally attributed to Homer – were just so enchanting to hear that they had to be preserved.
Ví dụ, theo một giả thuyết về sự xuất hiện của việc biết chữ ở Hy Lạp cổ đại, những câu chuyện sử thi về cuộc chiến thành Troy và hành trình lang bạt của Odysseus - theo truyền thuyết là nhân vật tượng trưng cho Homer - có một sức hút đầy mê hoặc đến nỗi chúng cần phải được lưu giữ lại.
So the Greeks, c.750-700 BC, borrowed an alphabet from their neighbours in the eastern Mediterranean, the Phoenicians.
Vì vậy, từ năm 750 đến 700 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã vay mượn bảng chữ cái của nước láng giềng phía Đông Địa Trung Hải của họ, người Phoenicia.
The custom of recording stories on parchment and other materials can be traced in many manifestations around the world, from the priestly papyrus archives of ancient Egypt to the birch-bark scrolls on which the North American Ojibway Indians set down their creation-myth.
Phong tục ghi chép lại những câu chuyện trên Giấy da và những vật liệu khác có thể được tìm thấy tại nhiều nơi trên thế giới, từ các kho lưu trữ giấy cói của các vị linh mục ở Ai Cập cổ đại cho đến những cuộn giấy từ bì cây bạch dương mà những người da đỏ Ojibway dùng để ghi lại những câu chuyện thần thoại của họ.
It is a well-tried and universal practice: so much so that to this day storytime is probably most often associated with words on paper.
Đây là một phương pháp cực kỳ phổ biến và đáng tin cậy; đến mức mà cho đến bây giờ những câu chuyện đều được gắn liền với những con chữ trên giấy.
The formal practice of narrating a story aloud would seem-so we assume to have given way to newspapers, novels and comic strips.
Chúng tôi cho rằng kỹ thuật chính thức để tường thuật một câu chuyện đã nhường chỗ cho báo chí, tiểu thuyết và truyện tranh.
This, however, is not the case.
Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề.
Statistically, it is doubtful that the majority of humans currently rely upon the written word to get access to stories.
Theo thống kê, không chắc rằng phần lớn con người trong thời điểm hiện tại dựa vào chữ viết để tiếp cận với các câu chuyện.
So what is the alternative source?
Vậy thì nguồn thay thế là gì?
Each year, over 7 billion people will go to watch the latest offering from Hollywood, Bollywood and beyond.
Mỗi năm, hơn 7 tỷ người sẽ đến xem những bộ phim mới nhất từ Hollywood, Bollywood và các nơi khác.
The supreme storyteller of today is cinema.
Người kể chuyện tuyệt đỉnh ngày nay chính là điện ảnh.
The movies, as distinct from still photography, seem to be an essential modern phenomenon.
Những bộ phim khác biệt với chụp ảnh tĩnh, chúng dường như là một hiện tượng đầy sức ảnh hưởng trong thời hiện đại.
This is an illusion, for there are, as we shall see, certain ways in which the medium of film is indebted to very old precedents of arranging ‘sequences’ of images.
Như chúng ta sẽ thấy, thật là ảo tưởng rằng phương tiện phim ảnh theo một số cách nào đó bị ảnh hưởng bởi các tiền lệ cũ về việc sắp xếp các "chuỗi" hình ảnh.
But any account of visual storytelling must be with the recognition that all storytelling beats with a deeply atavistic pulse: that is, a ‘good story’ relies upon formal patterns of plot and characterisation that have been embedded in the practice of storytelling over many generations.
Nhưng bất kỳ lý giải nào đối với việc kể chuyện qua hình ảnh cũng đều đi kèm sự công nhận rằng tất cả những cách kể chuyện đều có một nhịp đập được liên kết sâu sắc: nghĩa là, một “câu chuyện hay” thường dựa trên những khuôn mẫu về cốt truyện và đặc điểm vốn đã gắn với việc kể chuyện qua nhiều thế hệ.
Thousands of scripts arrive every week at the offices of the major film studios.
Mỗi tuần, hàng ngàn kịch bản được gửi đến văn phòng của những hãng phim lớn.
But aspiring screenwriters really need to look no further for essential advice than the fourth-century BC Greek Philosopher Aristotle.
Tuy nhiên, những nhà biên kịch đầy tham vọng không cần phải tìm kiếm lời khuyên quan trọng đâu xa hơn là từ Aristotle, một triết gia Hy Lạp sống ở thế kỷ thứ tư trước Công nguyên.
He left some incomplete lecture notes on the art of telling stories in various literary and dramatic modes, a slim volume known as The Poetics.
Ông đã để lại một số ghi chú bài giảng chưa hoàn chỉnh về nghệ thuật kể chuyện bằng nhiều hình thức văn học và kịch của mình, trong đó một tập nhỏ được gọi là “Thi Tập”
Though he can never have envisaged the popcorn-fuelled actuality of a multiplex cinema, Aristotle is almost prescient about the key elements required to get the crowds flocking to such a cultural hub.
Mặc dù ông chưa bao giờ hình dung được một rạp phim trên thực tế với nhiều phòng chiếu và bán đầy bỏng ngô, nhưng Aristotle gần như đã thấy trước được các yếu tố cần thiết để thu hút đám đông đến một trung tâm văn hóa như vậy.
He analysed the process with cool rationalism.
Ông đã phân tích quá trình này một cách tỉnh táo và đầy hợp lý.
When a story enchants us, we lose the sense of where we are; we are drawn into the story so thoroughly that we forget it is a story being told.
Khi bị lôi cuốn bởi một câu chuyện, chúng ta sẽ quên mất mình đang ở đâu; chúng ta sẽ bị nhập tâm vào câu chuyện ấy đến nỗi chúng ta quên mất rằng đó cũng chỉ là một câu chuyện đang được kể.
This is, in Aristotle’s phrase, ‘the suspension of disbelief.
Điều này còn được gọi bằng cụm từ, mà theo Aristotle, là “Tạm gác sự Hoài Nghi.”
We know the feeling.
Chúng ta đều hiểu cảm giác đó.
If ever we have stayed in our seats, stunned with grief, as the credits roll by, or for days after seeing that vivid evocation of horror have been nervous about taking a shower at home, then we have suspended disbelief.
Khi chúng ta ngồi trên ghế, lướt qua những danh mục phim, cảm thấy đau buồn hay thậm chí là sau vài ngày xem nghi thức gọi hồn sống động của một bộ phim kinh dị vẫn cảm thấy rợn người khi đi tắm, thí đó là khi chúng ta tạm gác sự hoài nghi của mình
We have been caught, or captivated, in the storyteller’s web.
Chúng ta cũng đã từng bị mắc kẹt, nói đúng hơn là bị quyến rũ và sa vào lưới của những người kể chuyện.
Did it all really happen?
Những điều ấy thực sự đã xảy ra sao?
We really thought so for a while.
Chúng tôi cũng đã thật sự nghĩ như vậy trong một khoảng thời gian.
Aristotle must have witnessed often enough this suspension of disbelief.
Aristotle hẳn là đã trải qua đủ "sự tạm gác lại hoài nghi" .
He taught at Athens, the city where theatre developed as a primary form of civic ritual and recreation.
Ông dạy học tại Athens, một thành phố nơi kịch nghệ sân khấu phát triển như một hình thức giải trí và nghi lễ chính của công dân.
Two theatrical types of storytelling, tragedy and comedy, caused Athenian audiences to lose themselves in sadness and laughter respectively.
Hai hình thức kể chuyện sân khấu bao gồm bi kịch và hài kịch, khiến cho những người dân Athen hết chìm đắm trong tiếng cười lại đến nỗi buồn.
Tragedy, for Aristotle, was particularly potent in its capacity to enlist and then purge the emotions of those watching the story unfold on the stage, so he tried to identify those factors in the storyteller’s art that brought about such engagement.
Đối với Aristotle, bị kịch đặc biệt mạnh mẽ trong việc đẩy cảm xúc người xem lên cao trào với câu chuyện đang diễn ra trên sân khấu rồi lại giải tỏa chúng, vậy nên ông đã cố gắng khám phá những yếu tố có thể đem lại sự tương tác như vậy trong nghệ thuật của người kể chuyện.
He had, as an obvious sample for analysis, not only the fifth-century BC masterpieces of Classical Greek tragedy written by Aeschylus, Sophocles and Euripides.
Lấy ví dụ rõ ràng cho việc phân tích, ông không chỉ có những kiệt tác bi kịch cổ điển của Hy Lạp vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên được viết bởi Aeschylus, Sophocles và Euripides.
Beyond them stood Homer, whose stories even then had canonical status: The Iliad and The Odyssey were already considered literary landmarks-stories by which all other stories should be measured.
Ngoại họ còn có cả Homer, những câu chuyện của ông đã trở nên kinh điển: như Iliad và Odyssey đã được coi là những câu chuyện đậm nét văn học lịch sử mà những câu chuyện khác cần phải noi theo.
So what was the secret of Homer’s narrative art?
Vậy bí mật trong nghệ thuật kể chuyện của Homer là gì?
It was not hard to find.
Sự thật không quá khó để tìm ra.
Homer created credible heroes.
Homer đã tạo ra những người hùng kiệt xuất.
His heroes belonged to the past, they were mighty and magnificent, yet they were not, in the end, fantasy figures.
Những vị anh hùng của ông là những người thuộc về quá khứ, họ hùng mạnh và vĩ đại, nhưng đến cuối cùng, họ cũng chẳng phải là những hình mẫu ảo tưởng hoang đường.
He made his heroes sulk, bicker, cheat and cry.
Ông khiến cho họ biết giận dữ, cãi vã, lừa dối và cả khóc nữa.

Từ vựng (61)

  • crouch (kraʊtʃ) — bò, quây quần
  • adventure (ədˈven.tʃɚ) — cuộc thám hiểm
  • encounter (ɪnˈkaʊn.t̬ɚ) — đụng độ
  • remarkable (rɪˈmɑːr.kə.bəl) — đáng chú ý, to lớn
  • mortal (ˈmɔːr.t̬əl) — người phàm
  • out of the ordinary (aʊt) (əv) (ðiː) (ˈɔːr.dən.er.i) — khác thường
  • thread (θred) — sợi chỉ
  • weave (wiːv) — thêu dệt
  • prime (praɪm) — đầu tiên, chủ yếu, hàng đầu
  • sustain (səˈsteɪn) — Duy trì; kéo dài
  • fireside (ˈfaɪr.saɪd) — Chỗ cạnh lò sưởi; chỗ bên lò sưởi
  • recite (rɪˈsaɪt) — Kể lại, thuật lại, kể lể
  • verbatim (vɝːˈbeɪ.t̬əm) — Đúng nguyên văn, theo từng chữ một
  • prose (proʊz) — Văn xuôi
  • mnemonic (nɪˈmɑː.nɪk) — giúp dễ nhớ, (thuộc) trí nhớ
  • cue (kjuː) — Sự gợi ý, sự ra hiệu
  • mind’s eye (ˈmaɪndz) (aɪ) — Trí nhớ
  • notch (nɑːtʃ) — vết khía hình chữ V
  • successive (səkˈses.ɪv) — Liên tục; kế tiếp
  • enchanting (ɪnˈtʃæn.t̬ɪŋ) — Làm say mê, làm vui thích
  • parchment (ˈpɑːrtʃ.mənt) — Giấy da
  • manifestation (ˌmæn.ə.fesˈteɪ.ʃən) — sự xuất hiện
  • birch-bark (bɝːtʃ) (bɑːrk) — bì cây bạch dương
  • myth (mɪθ) — Thần thoại
  • well-tried (wel) (traɪd) — Đã được thử thách (do đó đáng tin cậy)
  • give way to (ɡɪv) (weɪ) (tuː) — nhường đường
  • statistically (stəˈtɪs.tɪ.kəl.i) — (thuộc) thống kê
  • doubtful (ˈdaʊt.fəl) — Nghi ngờ, ngờ vực
  • alternative (ɑːlˈtɝː.nə.t̬ɪv) — phương án thay thế
  • still (stɪl) — bất động
  • phenomenon (fəˈnɑː.mə.nɑːn) — hiện tượng
  • precedent (ˈpres.ə.dent) — tiền lệ, tiền đề
  • sequence (ˈsikwəns) — Sự nối tiếp, sự liên tiếp
  • atavistic (ˌæt̬.əˈvɪs.tɪk) — (sinh vật học) lại giống
  • pulse (pʌls) — mạch máu
  • characterisation (ˌker.ək.tə.rəˈzeɪ.ʃən) — sự mô tả đặc điểm
  • embed (ɪmˈbed) — Ghi vào (trí nhớ)
  • aspiring (əˈspaɪr.ɪŋ) — thiết tha, mong mỏi, khao khát
  • lecture note (ˈlek.tʃɚ) (noʊt) — tóm tắt bài giảng
  • envisage (ɪnˈvɪz.ɪdʒ) — nhìn trước
  • actuality (ˌæk.tʃuˈæl.ə.t̬i) — Thực tế, thực tại
  • multiplex cinema (ˈmʌl.tə.pleks) (ˈsɪn.ə.mə) — rạp chiếu phim đa khu vực
  • prescient (ˈpreʃ.ənt) — Tiên tri, biết trước, có thể thấy trước
  • flocking (flɑːk) — đi theo cụm
  • cultural hub (ˈkʌl.tʃɚ.əl) (hʌb) — trung tâm văn hóa
  • rationalism (ˈræʃ.ən.əl.ɪ.zəm) — Chủ nghĩa duy lý
  • suspension (səˈspen.ʃən) — Sự ngưng lại
  • grief (ɡriːf) — nỗi đau, sự đau buồn
  • credit (ˈkred.ɪt) — danh đề
  • evocation (ˌev.əˈkeɪ.ʃən) — Sự gọi lên, sự gợi lên
  • theatre (ˈθiː.ə.t̬ɚ) — kịch nghệ sân khấu
  • recreation (ˌrek.riˈeɪ.ʃən) — sự giải trí, sự tiêu khiển
  • potent (ˈpoʊ.t̬ənt) — hiệu nghiệm, hiệu lực.
  • enlist (ɪnˈlɪst) — tranh thủ, giành được
  • purge (pɝːdʒ) — thanh lọc, gột rửa
  • unfold (ʌnˈfoʊld) — lộ ra, bộc lộ
  • masterpiece (ˈmæs.tɚ.piːs) — Tác phẩm lớn; kiệt tác
  • canonical (kəˈnɑː.nɪ.kəl) — chính tắc, hợp tiêu chuẩn
  • sulk (sʌlk) — hờn dỗi, tủi hổ
  • bicker (ˈbɪk.ɚ) — cãi vã
  • intrinsically (ɪnˈtrɪn.zɪ.kəl.i) — thực chất, về bản chất