← Danh sách bài đọc
Bài 097
Book review on Musicophilia
Sách đánh giá về sách Musicophilia (Bệnh mê âm nhạc)
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Norman M.Weinberger reviews the latest work of Oliver Sacks on music.
Norman M.Weinberger đánh giá tác phẩm mới nhất của Oliver Sacks về âm nhạc
Music and the brain are both endlessly fascinating subjects, and as a neuroscientist specialising in auditory learning and memory, I find them especially intriguing.
Âm nhạc và bộ não đều là những chủ đề hứng thú vô tận, là một nhà thần kinh học chuyên nghiên cứu về thính giác và trí nhớ, tôi đặc biệt thấy nó vô cùng hấp dẫn.
So I had high expectations of Musicophilia, the latest offering from neurologist and prolific author Oliver Sacks.
Vì thế tôi có kỳ vọng cao đối với Musicophilia, bản mới nhất của nhà thần kinh học và tác giả viết nhiều nhất Oliver Sacks.
And I confess to feeling a little guilty reporting that my reactions to the book are mixed.
Và tôi thú nhận là cảm thấy hơi có tội lỗi khi nói rằng phản ứng của tôi đối với cuốn sách khá là lẫn lộn.
Sacks himself is the best part of Musicophilia.
Bản thân Sacks chính là phần tuyệt nhất của Bệnh mê âm nhạc .
He richly documents his own life in the book and reveals highly personal experiences.
Anh ấy ghi lại cuộc sống của mình một cách rất phong phú trong cuốn sách và tiết lộ những trải nghiệm mang tính cá nhân cao
The photograph of him on the cover of the book-which shows him wearing headphones, eyes closed, clearly enchanted as he listens to Alfred Brendel perform Beethoven’s Pathetique Sonata-makes a positive impression that is borne out by the contents of the book.
Bức ảnh chụp anh ấy trên bìa sách, ở đó anh ta đeo tai nghe, nhắm mắt, rõ ràng là đã bị mê hoặc ngay khi nghe Alfred Brendel biểu diễn Beethoven’s Pathetique Sonata, điều này tạo nên một ấn tượng rõ ràng được trình bày trong nội dung của cuốn sách.
Sacks’ voice throughout is steady and erudite but never pontifical.
Sacks dùng giọng văn chắc chắn và uyên bác xuyên suốt tác phẩm, nhưng lại không mang tính chất giáo lý.
He is neither self-conscious nor self-promoting.
Anh ấy không quá e dè mà cũng không quá tự đề cao bản thân.
The preface gives a good idea of what the book will deliver.
lời tựa quyển sách mang đến một ý niệm tốt về những gì mà cuốn sách sẽ mang đến.
In it, Sacks explains that he wants to convey the insights gleaned from the “enormous and rapidly growing body of work on the neural underpinnings of musical perception and imagery, and the complex and often bizarre disorders to which these are prone.”
Trong đó, Sacks giải thích rằng anh ấy muốn truyền tải những hiểu biết sâu sắc thu lượm từ " khối công việc khổng lồ và phát triển một cách nhanh chóng dựa trên nền tảng thần kinh về nhận thức và hình ảnh âm nhạc, cũng như những rối loạn phức tạp và khác thường dễ mắc phải. "
He also stresses the importance of “the simple art of observation” and “the richness of the human context.”
Anh ấy cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của "nghệ thuật quan sát" và "sự phong phú của những bối cảnh xoay quanh con người."
He wants to combine “observation and description with the latest in technology,” he says, and to imaginatively enter into the experience of his patients and subjects.
Anh ấy muốn kết hợp "sự quan sát và mô tả với những công nghệ mới nhất"," anh ấy nói, và để đi vào trải nghiệm của những bệnh nhân và chủ thể của mình một cách mới mẻ.
The reader can see that Sacks, who has been practicing neurology for 40 years, is torn between the “old-fashioned” path of observation and the new-fangled, high-tech approach: He knows that he needs to take heed of the latter, but his heart lies with the former.
Độc giả có thể thấy rằng Sacks, người đã làm việc về thần kinh học trong 40 năm, bị giằng xé giữa một cách quan sát theo "kiểu cũ" và một cách tiếp cận hoàn toàn mới với công nghệ cao: Anh ấy biết rằng anh ấy cần lưu ý tới cái mới, nhưng trái tim anh ấy lại hướng về cái cũ.
The book consists mainly of detailed descriptions of cases, most of them involving patients whom Sacks has seen in his practice.
Cuốn sách bao gồm chủ yếu mô tả chi tiết nhiều trường hợp, phần lớn chúng liên quan đến những bệnh nhân mà Sacks đã quan sát trong quá trình học của mình.
Brief discussions of contemporary neuroscientific reports are sprinkled liberally throughout the text.
Những thảo luận ngắn về các báo cáo khoa học thần kinh đương thời được rải khắp xuyên suốt cả bài.
Part, “Haunted by Music,” begins with the strange case of Tony Cicoria, a nonmusical, middle-aged surgeon who was consumed by a love of music after being hit by lightning.
Phần "Ám ảnh bởi âm nhạc" bắt đầu với trường hợp kì lạ của Tony Cicora, một người không làm về âm nhạc, một bác sĩ phẫu thuật ở độ tuổi trung niên, anh đã say mê âm nhạc sau khi bị sét đánh.
He suddenly began to crave listening to piano music, which he had never cared for in the past.
Anh ấy đột nhiên bắt đầu thèm khát nghe đàn dương cầm, việc mà anh ấy chưa từng quan tâm trong quá khứ.
He started to play the piano and then to compose music, which arose spontaneously in his mind in a “torrent” of notes.
Anh ấy đã bắt đầu chơi đàn dương cầm và cả sáng tác nhạc, điều này tự nảy ra một cách tự nhiên trong tâm trí anh ấy như là một “dòng chảy” của các nốt nhạc.
How could this happen? Was the cause psychological? (He had had a near-death experience when the lightning struck him.)
Tại sao điều đó lại có thể xảy ra? Nguyên nhân có phải do tâm lý không? (Anh ấy đã từng trải qua việc suýt nữa phải chết khi sét đánh vào mình)
Or was it the direct result of a change in the auditory regions of his cerebral cortex?
Hay đó là kết quả trực tiếp của việc có sự thay đổi trong các khu vực thính giác trong vỏ não của anh ta?
Electroencephalography (EEG) showed his brain waves to be normal in the mid-1990s, just after his trauma and subsequent “conversion” to music.
điện não đồ (EEG) cho thấy sóng não của anh ấy ở trạng thái bình thường vào giữa những năm 1990, chỉ ngay sau khi anh ấy bị chấn thương và liền sau đó “chuyển đổi” sang âm nhạc.
There are now more sensitive tests, but Cicoria, has declined to undergo them; he does not want to delve into the causes of his musicality.
Bây giờ thì có nhiều bài kiểm tra nhạy bén hơn, nhưng Cicora đã từ chối tiếp tục chúng; anh ấy không muốn đào sâu thêm những nguyên nhân cho khả năng cảm thụ âm nhạc của anh ấy.
What a shame!
Thật là đáng tiếc!
Part II, “A Range of Musicality,” covers a wider variety of topics, but unfortunately, some of the chapters offer little or nothing that is new.
Phần II, "Phạm vi của khả năng cảm thụ âm nhạc," bao trùm một số lượng chủ đề rộng hơn, nhưng thật không may, một số chương chỉ mang đến ít hoặc không có thông tin gì mới mẻ.
For example, chapter 13, which is five pages long, merely notes that the blind often has better hearing than the sighted.
Ví dụ như, chương 13, phần kéo dài 5 trang, chỉ đơn thuần ghi lại rằng người khiếm thị thường có khả năng nghe tốt hơn là người có thể nhìn được.
The most interesting chapters are those that present the strangest cases.
Những chương thú vị nhất là những phần kể về các trường hợp kì lạ nhất.
Chapter 8 is about “amusia,” an inability to hear sounds like music, and “dysharmonia,” a highly specific impairment of the ability to hear harmony, with the ability to understand melody left intact.
Chương 8 là về "chứng không phân biệt được nốt nhạc," một khả năng không thể nghe những âm thanh thành âm nhạc, và "hiện tượng tông điếc," một chứng suy nhược cụ thể là về khả năng nghe hòa âm, với khả năng hiểu giai điệu còn nguyên vẹn.
Such specific “dissociations” are found throughout the cases Sacks recounts.
Những "sự phân tách" cụ thể như vậy được tìm thấy trong suốt các trường hợp mà Sacks thuật lại
To Sacks’s credit, part III, “Memory, Movement and Music,” brings us into the underappreciated realm of music therapy.
Theo ghi nhận của Sacks, phần III, "Trí nhớ, Cử động, và Âm nhạc", cho chúng ta biết về một lĩnh vực bị đánh giá thấp của trị liệu bằng âm nhạc.
Chapter 16 explains how “melodic intonation therapy” is being used to help expressive aphasic patients (those unable to express their thoughts verbally following a stroke or other cerebral incident) once again become capable of fluent speech.
Chương 16 giải thích cách mà "liệu pháp biến âm theo giai điệu" đang được sử dụng để trợ giúp những bệnh nhân mất khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ (những người không thể biểu đạt suy nghĩ của họ bằng lời nói sau đột quỵ hoặc chấn thương sọ não) một lần nữa có thể nói lưu loát trở lại.
In chapter 20, Sacks demonstrates the near-miraculous power of music to animate Parkinson’s patients and other people with severe movement disorders, even those who are frozen into odd postures.
Trong chương 20, Sacks miêu tả sức mạnh gần như là phép màu của âm nhạc khi khiến những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson và những người bị rối loạn vận động nghiêm trọng khác, thậm chí cả những người bị kẹt trong những tư thế kỳ quặc có thêm sức sống.
Scientists cannot yet explain how music achieves this effect
Các nhà khoa học hiện nay vẫn chưa tìm được làm thế nào âm nhạc đạt được hiệu ứng này.
To readers who are unfamiliar with neuroscience and music behavior, Musicophilia may be something of a revelation.
Với các độc giả không quen thuộc với khoa học thần kinh hay biểu hiện của âm nhạc, thì Bệnh mê âm nhạc có lẽ là một cái gì đấy đáng để khám phá.
But the book will not satisfy those seeking the causes and implications of the phenomena Sacks describes.
Nhưng cuốn sách này sẽ không thỏa mãn những người đang đi tìm nguyên nhân và những đầu mối cho các hiện tượng mà Sacks miêu tả.
For one thing, Sacks appears to be more at ease discussing patients than discussing experiments.
Và một điều nữa, Sacks xuất hiện thoải mái hơn ở câu chuyện thảo luận về bệnh nhân hơn là về những thí nghiệm.
And he tends to be rather uncritical in accepting scientific findings and theories.
Và anh ấy thường không biểu hiện quá khắt khe trong việc chấp nhận các phát hiện khoa học và các giả thuyết .
It’s true that the causes of music-brain oddities remain poorly understood.
Đúng là người ta vẫn chưa hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến sự kỳ lạ của não bộ trong mảng âm nhạc.
However, Sacks could have done more to draw out some of the implications of the careful observations that he and other neurologists have made and of the treatments that have been successful.
Tuy nhiên, Sacks có thể nghiên cứu nhiều hơn nữa để rút ra một số đầu mối từ việc quan sát một cách cẩn thận của anh ấy và các nhà thần kinh học khác đã làm, và từ cả các phương pháp điều trị đã thành công.
For example, he might have noted that the many specific dissociations among components of music comprehension, such as loss of the ability to perceive harmony but not melody, indicate that there is no music center in the brain.
Ví dụ, anh ấy có thể đã chú ý đến việc nhiều sự phân ly cụ thể giữa các yếu tố trong việc nhận thức được âm nhạc, chẳng hạn như mất khả năng cảm nhận hòa âm chứ không phải giai điệu, cho thấy rằng không có trung khu âm nhạc trong não.
Because many people who read the book are likely to believe in the brain localisation of all mental functions, this was a missed educational opportunity.
Bởi nhiều người đọc cuốn sách này thường sẽ dễ tin vào sự định vị của não ở các chức năng tâm thần, đây là một cơ hội giáo dục đã bị bỏ qua.
Another conclusion one could draw is that there seem to be no “cures” for neurological problems involving music.
Một kết luận khác có thể rút ra là dường như không có "phương thuốc" nào cho các vấn đề thần kinh liên quan đến âm nhạc.
A drug can alleviate a symptom in one patient and aggravate it in another or can have both positive and negative effects in the same patient.
Thuốc có thể làm nhẹ một triệu chứng của bệnh nhân này, thì có thể sẽ lại làm nặng thêm ở bệnh nhân khác hoặc có thể có cả tác dụng tích cực và tiêu cực lên một người bệnh nhân.
Treatments mentioned seem to be almost exclusively antiepileptic medications, which “damp down” the excitability of the brain in general; their effectiveness varies widely.
Các phương pháp điều trị được đề cập hầu như chỉ là thuốc chống động kinh, có tác dụng “làm giảm” khả năng hưng phấn của não bộ nói chung; có nhiều tác dụng khác nhau.
Finally, in many of the cases described here the patient with music-brain symptoms is reported to have “normal” EEG results.
Cuối cùng, rất nhiều các trường hợp có bệnh nhân có những triệu chứng liên quan giữa não bộ và âm nhạc được mô tả ở đây thì đều được chẩn đoán là có kết quả EEG "bình thường".
Although Sacks recognises the existence of new technologies, among them far more sensitive ways to analyze brain waves than the standard neurological EEG test, he does not call for their use.
Mặc dù Sacks có biết đến sự tồn tại của các công nghệ mới, và trong số chúng có những cách nhạy bén hơn nhiều để phân tích sóng não so với bài kiểm tra thần kinh EEG tiêu chuẩn, anh ấy vẫn không muốn dùng đến chúng.
In fact, although he exhibits the greatest compassion for patients, he conveys no sense of urgency about the pursuit of new avenues in the diagnosis and treatment of music-brain disorders.
Trên thực tế, mặc dù anh ấy thể hiện lòng trắc ẩn lớn lao của mình đối với các bệnh nhân, nhưng anh ấy lại không cảm thấy cấp bách trong việc sẽ theo đuổi con đường mới để chẩn đoán và điều trị các chứng rối loạn liên quan đến âm nhạc ở não.
This absence echoes the book’s preface, in which Sacks expresses fear that “the simple art of observation may be lost” if we rely too much on new technologies.
Sự bỏ lỡ này lặp lại lời nói đầu của cuốn sách, trong đó Sacks bày tỏ lo sợ rằng “nghệ thuật quan sát đơn giản có thể sẽ bị mất” nếu chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào các công nghệ mới.
He does call for both approaches, though, and we can only hope that the neurological community will respond..
Tuy nhiên, anh ấy kêu gọi cho cả hai cách tiếp cận và chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng những người làm việc trong lĩnh vực thần kinh học sẽ đáp lại..
Từ vựng (85)
- neuro (ˈnʊˌɹoʊ) — thần kinh
- verbally (ˈvɝː.bəl.i) — bằng miệng
- auditory (ˈɑː.də.tɔːr.i) — thính giác
- intriguing (ɪnˈtriː.ɡɪŋ) — hấp dẫn
- expectation (ˌek.spekˈteɪ.ʃən) — kỳ vọng
- prolific author (prəˈlɪf.ɪk) (ˈɑː.θɚ) — tác giả viết nhiều nhất
- confess (kənˈfes) — thú nhận
- malady (ˈmæl.ə.di) — căn bệnh
- guilty (ˈɡɪl.ti) — có tội lỗi
- oddity (ˈɑː.də.t̬i) — sự kì quặc
- enchanted (ɪnˈtʃæn.t̬ɪd) — đã bị mê hoặc
- erudite (ˈer.jə.daɪt) — uyên bác
- pontifical (pɑːnˈtɪf.ɪ.kəl) — mang tính chất giáo lý
- self-conscious (self) (ˈkɑːn.ʃəs) — e dè
- preface (ˈpref.ɪs) — lời tựa quyển sách
- avenue (ˈæv.ə.nuː) — con đường
- deliver (dɪˈlɪv.ɚ) — mang đến
- convey (kənˈveɪ) — truyền tải
- insight (ˈɪn.saɪt) — hiểu biết
- glean (ɡliːn) — thu lượm
- body of work (ˈbɑː.di) (əv) (wɝːk) — khối công việc
- underpinning (ˈʌn.dɚˌpɪn.ɪŋ) — nền tảng
- perception (pɚ-) — nhận thức
- bizarre (bəˈzɑːr) — khác thường
- call for (kɑːl) (fɔːr) — kêu gọi
- prone (proʊn) — dễ mắc phải
- context (ˈkɑːn.tekst) — bối cảnh
- is torn between (ɪz) (tɔːrn) (bɪˈtwiːn) — bị giằng xé giữa
- new-fangled (nuː) (ˈfæŋɡəɫd) — hoàn toàn mới
- to take heed of (tuː) (teɪk) (hiːd) (əv) — lưu ý ới
- contemporary (kənˈtem.pə.rer.i) — đương thời
- haunt (hɑːnt) — ám ảnh
- crave (kreɪv) — them khát
- compose (kəmˈpoʊz) — sáng tác
- spontaneously (spɑːnˈteɪ.ni.əs.li) — một cách tự nhiên
- torrent (ˈtɔːr.ənt) — dòng chảy
- cerebral cortex (ˈser.ə.brəl) (ˈkɔːr.teks) — vỏ não
- electroencephalography (electroencephalography*) — điện não đồ
- EEG (ˌiː.iːˈdʒiː) — điện não đồ
- trauma (ˈtrɑː.mə) — chấn thương
- subsequent (ˈsʌb.sɪ.kwənt) — liền sau đó
- conversion (kənˈvɝː.ʒən) — chuyển đổi
- sensitive (ˈsen.sə.t̬ɪv) — nhạy bén
- decline (dɪˈklaɪn) — từ chối
- delve (delv) — đào sâu
- musicality (mjuː.zɪˈkæl.ə.t̬i) — cảm thụ âm nhạc
- unfortunately (ʌnˈfɔːr.tʃən.ət.li) — thật không may
- offer (ˈɑː.fɚ) — mang đến
- merely (ˈmɪr.li) — chỉ đơn thuần
- the sighted (ðə) (ˈsaɪ.t̬ɪd) — người có thể nhìn được
- amusia (amusia*) — chứng không phân biệt được nốt nhạc
- impairment (ɪmˈper.mənt) — suy nhược
- intact (ɪnˈtækt) — nguyên vẹn
- dissociation (dɪˌsoʊ.ʃiˈeɪ.ʃən) — sự phân tách
- underappreciated (underappreciated*) — bị đánh giá thấp
- realm (relm) — lĩnh vực
- expressive aphasic (ɪkˈspres.ɪv) (əˈfeɪ.zɪk) — mất khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ
- stroke (stroʊk) — đột quỵ
- cerebral incident (ˈser.ə.brəl) (ˈɪn.sɪ.dənt) — chấn thương sọ não
- fluent speech (ˈfluː.ənt) (spiːtʃ) — nói lưu loát
- miraculous (məˈræk.jə.ləs) — như là phép màu
- animate (ˈæn.ə.mət) — có thêm sức sống
- severe (səˈvɪr) — nghiêm trọng
- posture (ˈpɑːs.tʃɚ) — tư thế
- achieve (əˈtʃiːv) — đạt được
- unfamiliar (ʌn.fəˈmɪl.i.jɚ) — không quen
- revelation (ˌrev.əˈleɪ.ʃən) — khám phá
- implication (ˌɪm.pləˈkeɪ.ʃən) — đầu mối
- phenomena (fəˈnɑmənə) — hiện tượng
- critical (ˈkrɪt̬.ɪ.kəl) — khắt khe
- draw out (drɑː) (aʊt) — rút ra
- perceive (pɚ-) — cảm nhận
- cure (kjʊr) — phương thuốc
- antiepileptic medication (antiepileptic*) (ˌmed.əˈkeɪ.ʃən) — thuốc chống động kinh
- damp (dæmp) — làm giảm
- excitability (ɪkˌsaɪ.t̬əˈbɪl.ə.t̬i) — khả năng hưng phấn
- symptoms (ˈsɪmptəmz) — triệu chứng
- recount (rɪˈkaʊnt) — thuật lại
- alleviate (əˈliː.vi.eɪt) — làm nhẹ
- aggravate (ˈæɡ.rə.veɪt) — làm nặng thêm
- far more (fɑːr) (mɔːr) — hơn nhiều
- exhibit (ɪɡˈzɪb.ɪt) — thể hiện
- compassion (kəmˈpæʃ.ən) — lòng trắc ẩn
- diagnosis (ˌdaɪ.əɡˈnoʊ.sɪs) — chẩn đoán
- echo (ˈek.oʊ) — lặp lại