← Danh sách bài đọc
Bài 098

Beyond the blue line

Vượt ra ngoài biển xa

Beyond the blue line
Vượt ra ngoài biển xa
Much of the thrill of venturing to the far side of the world rests on the romance of difference.
Phần lớn cảm giác phấn khích khi phiêu lưu tới một vùng đất xa xôi của thế giới nằm ở thú lãng mạn của sự khác biệt.
So one feels a certain sympathy for Captain James Cook on the day in 1778 that he “discovered” Hawaii.
Vì thế nên người ta cảm thấy đồng cảm với thuyền trưởng Jame Cook vào ngày ông khám phá ra "Hawaii" năm 1778
Then on his third expedition to the Pacific, the British navigator had explored scores of islands across the breadth of the sea, from lush New Zealand to the lonely wastes of Easter Island.
Sau đó, trong chuyến thám hiểm thứ ba đến Thái Bình Dương, nhà hàng hải người Anh đã khám phá ra rất nhiều hòn đảo trên khắp bề mặt đại dương, từ New Zealand màu mỡ cho tới những vùng đất cô đơn của đảo Phục Sinh.
This latest voyage had taken him thousands of miles north from the Society Islands to an archipelago so remote that even the old Polynesians back on Tahiti knew nothing about it.
Chuyến đi sau chót này đã đưa anh ta đi hàng ngàn dặm về phía bắc từ Quần đảo Society đến một quần đảo xa xôi đến nỗi ngay cả những người Polynesia cũ trên Tahiti cũng không biết gì về nó
Imagine Cook’s surprise, then, when the natives of Hawaii came paddling out in their canoes and greeted him in a familiar tongue, one he had heard on virtually every mote of inhabited land he had visited.
Sau đó, hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của Cook khi những người bản xứ Hawaii chèo xuồng ra và chào đón ông bằng một thứ ngôn ngữ quen thuộc, một ngôn ngữ mà ông đã từng nghe trên hầu hết các vùng đất có người sinh sống mà ông đã đến thăm.
Marveling at the ubiquity of this Pacific language and culture, he later wondered in his journal: “How shall we account for this Nation spreading itself so far over this vast ocean?”
Kinh ngạc trước sự phổ biến của ngôn ngữ và văn hóa Thái Bình Dương này, sau đó, ông đã tự hỏi trong nhật ký của mình: "Chúng ta sẽ giải thích thế nào về việc dân tộc này đang tự lan rộng và vượt qua đại dương bao la?"
That question, and others that flow from it has tantalized inquiring minds for centuries: Who were these amazing seafarers?
Câu hỏi đó, và những câu hỏi khác xuất phát từ nó đã trêu ngươi những tâm trí tò mò trong nhiều thế kỷ: Những người đi biển tuyệt vời này là ai?
Where did they come from, starting more than 3,000 years ago?
Họ đến từ đâu, bắt đầu từ hơn 3.000 năm trước?
And how could a Neolithic people with simple canoes and no navigation gear manage to find, let alone colonize, hundreds of far-flung island specks scattered across an ocean that spans nearly a third of the globe?
Và làm thế nào một dân tộc thời kỳ đồ đá mới với những chiếc ca nô đơn giản và không có thiết bị điều hướng có thể tìm thấy, khoan nói đến thuộc địa hóa, hàng trăm hòn đảo xa xôi nằm rải rác trên một đại dương trải dài gần một phần ba địa cầu?
Answers have been slow in coming.
Những câu trả lời vẫn chưa được tìm ra dù đã rất lâu.
But now a startling archaeological find on the island of Éfaté, in the Pacific nation of Vanuatu, has revealed an ancient seafaring people, the distant ancestors of today’s Polynesians, taking their first steps into the unknown.
Nhưng giờ đây, một phát hiện khảo cổ học gây sửng sốt trên đảo Éfaté, thuộc quốc gia Vanuatu, Thái Bình Dương, đã hé lộ về một dân tộc đi biển cổ đại, tổ tiên xa xôi của người Polynesia ngày nay, họ chính là những người bước những bước đầu tiên vào vùng đất vô danh.
The discoveries there have also opened a window into the shadowy world of those early voyagers.
Những khám phá ở đó cũng đã mở ra một cánh cửa vào thế giới bóng tối của những nhà du hành đầu tiên.
“What we have is a first- or second-generation site containing the graves of some of the Pacific’s first explorers,” says Spriggs, professor of archaeology at the Australian National University and co-leader of an international team excavating the site.
Spriggs, giáo sư khảo cổ học tại Đại học Quốc gia Úc và là đồng trưởng nhóm quốc tế đang khai quật địa điểm cho biết: “Những gì chúng tôi có là một khu đất thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai chứa mộ của một số nhà thám hiểm đầu tiên ở Thái Bình Dương."
It came to light only by luck. A backhoe operator, digging up topsoil on the grounds of a derelict coconut plantation, scraped open a grave – the first of dozens in a burial ground some 3,000 years old.
Địa điểm này được tìm thấy do may mắn. Khi đang đào lớp đất mặt trên khuôn viên của một đồn điền dừa vô chủ, một người điều khiển máy xúc đã cạo mở một ngôi mộ - đó cũng là ngôi mộ đầu tiên được tìm thấy trong số hàng chục ngôi mộ được chôn cất khoảng 3.000 năm trước.
It is the oldest cemetery ever found in the Pacific islands, and it harbors the bones of an ancient people archaeologists call the Lapita, a label that derives from a beach in New Caledonia where a landmark cache of their pottery was found in the 1950s.
Đây là nghĩa trang lâu đời nhất từng được tìm thấy trên các quần đảo Thái Bình Dương, và là nơi chứa xương của một người cổ đại mà các nhà khảo cổ học gọi là Lapita, một cái tên bắt nguồn từ một bãi biển ở New Caledonia, nơi tìm thấy bộ gốm sứ của họ vào những năm 1950.
They were daring blue-water adventurers who roved the sea not just as explorers but also as pioneers, bringing along everything they would need to build new lives – their families and livestock, taro seedlings and stone tools.
Họ là những nhà thám hiểm đại dương đầy táo bạo, những người đi trên biển không chỉ với tư cách là những nhà thám hiểm mà còn là những người tiên phong, mang theo mọi thứ họ cần để xây dựng cuộc sống mới - gia đình và gia súc, cây khoai môn và các công cụ bằng đá.
Within the span of a few centuries, the Lapita stretched the boundaries of their world from the jungle-clad volcanoes of Papua New Guinea to the loneliest coral outliers of Tonga, at least 2,000 miles eastward in the Pacific.
Trong khoảng thời gian vài thế kỷ, người Lapita đã kéo dài ranh giới thế giới của họ từ những ngọn núi lửa phủ đầy rừng rậm ở Papua New Guinea đến những vùng ngoại vi san hô đơn độc nhất của Tonga, ít nhất 2.000 dặm về phía đông ở Thái Bình Dương.
Along the way they explored millions of square miles of an unknown sea, discovering and colonizing scores of tropical islands never before seen by human eyes: Vanuatu, New Caledonia, Fiji, Samoa.
Trên đường đi, họ đã khám phá hàng triệu dặm vuông của một vùng biển chưa từng được biết đến, khám phá và thuộc địa hóa nhiêu hòn đảo nhiệt đới chưa từng được thấy trước đây bởi con người: Vanuatu, New Caledonia, Fiji, Samoa.
It was their descendants, centuries later, who became the great Polynesian navigators we all tend to think of: the Tahitians and Hawaiians, the New Zealand Maori, and the curious people who erected those statues on Easter Island. But it was the Lapita who laid the foundation – who bequeathed to the island the language, customs, and cultures that their more famous descendants carried around the Pacific.
Chính hậu duệ của họ, nhiều thế kỷ sau, đã trở thành những nhà hàng hải Polynesia vĩ đại mà chúng ta thường nghĩ đến: người Tahiti và người Hawaii, người Maori ở New Zealand, và những người tò mò đã dựng những bức tượng trên Đảo Phục sinh. Nhưng chính người Lapita là người đã đặt nền móng - những người đã để lại cho hòn đảo ngôn ngữ, phong tục và văn hóa mà những hậu duệ nổi tiếng hơn của họ đã mang đi khắp Thái Bình Dương.
While the Lapita left a glorious legacy, they also left precious few clues about themselves.
Trong khi người Lapita để lại một di sản huy hoàng, họ cũng để lại một vài manh mối quý giá về bản thân.
A particularly intriguing clue comes from chemical tests on the teeth of several skeletons
Một manh mối đặc biệt hấp dẫn cũng đến từ các thử nghiệm hóa học trên răng của một số bộ xương
Then as now, the food and water you consume as a child deposits oxygen, carbon, strontium, and other elements in your still-forming adult teeth.
Thời nay cũng thế, thức ăn và nước bạn tiêu thụ khi còn nhỏ sẽ lắng đọng oxy, carbon, stronti và các nguyên tố khác trong răng trưởng thành vẫn đang hình thành của bạn.
The isotope signatures of these elements vary subtly from place to place, so that if you grow up in, say, Buffalo, New York, then spend your adult life in California, tests on the isotopes in your teeth will always reveal your eastern roots.
Dấu hiệu đồng vị của các nguyên tố này thay đổi một cách tinh vi tùy theo từng nơi, vì vậy nếu bạn lớn lên, ví dụ như ở Buffalo, New York, sau đó trưởng thành ở California, các thử nghiệm về đồng vị trong răng của bạn sẽ luôn tiết lộ nguồn gốc từ phía đông của bạn.
Isotope analysis indicates that several of the Lapita buried on Éfaté didn’t spend their childhoods here but came from somewhere else.
Phép phân tích đồng vị chỉ ra rằng một số người Lapita được chôn cất trên Éfaté không trải qua thời thơ ấu của họ ở đây mà đến từ một nơi khác.
And while isotopes can’t pinpoint their precise island of origin, this much is clear: At some point in their lives, these people left the villages of their birth and made a voyage by seagoing canoe, never to return.
Và mặc dù các đồng vị không thể xác định chính xác nguồn gốc của chúng, điều rõ ràng hơn là: Vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ, những người này đã rời bỏ ngôi làng nơi sinh ra của họ và thực hiện một chuyến đi bằng xuồng đi biển, và không bao giờ quay trở lại.
DNA teased from these ancient bones may also help answer one of the most puzzling questions in Pacific anthropology: Did all Pacific islanders spring from one source or many?
DNA được lấy ra từ những mảnh xương cổ đại này cũng có thể giúp trả lời một trong những câu hỏi khó hiểu nhất trong ngành nhân chủng học Thái Bình Dương: Có phải tất cả cư dân các đảo ở Thái Bình Dương đều sinh ra từ một hay nhiều nguồn?
Was there only one outward migration from a single point in Asia, or several from different points?
Chỉ có một cuộc di cư ra nước ngoài từ một điểm duy nhất ở Châu Á, hay nhiều cuộc di cư từ các điểm khác nhau?
“This represents the best opportunity we’ve had yet,” says Spriggs, “to find out who the Lapita actually were, where they came from, and who their closest descendants are today.”
Spriggs nói: “Đây là cơ hội tốt nhất mà chúng tôi có được, để tìm hiểu xem người Lapita thực sự là ai, họ đến từ đâu và hậu duệ gần nhất của họ ngày nay là ai.”
There is one stubborn question for which archaeology has yet to provide any answers: How did the Lapita accomplish the ancient equivalent of a moon landing, many times over?
Có một câu hỏi hóc búa mà ngành khảo cổ học vẫn chưa đưa ra được câu trả lời: Làm thế nào mà người Lapita đã thực hiện được một việc mà ở thời cổ đại nó tương đương với việc hạ cánh lên mặt trăng, nhiều lần như vậy?
No one has found one of their canoes or any rigging, which could reveal how the canoes were sailed.
Không ai tìm thấy một trong những chiếc xuồng của họ hay bất cứ trang bị nào - thứ có thể tiết lộ cách họ đã di chuyển bằng những chiếc xuồng này.
Nor do the oral histories and traditions of later Polynesians offer any insights.
Lịch sử truyền miệng và các truyền thống của người Polynesia sau này cũng không cung cấp bất kỳ phát hiện nào khác.
“All we can say for certain is that the Lapita had canoes that were capable of ocean voyages, and they had the ability to sail them,” says Geoff Irwin, a professor of archaeology at the University of Auckland and an avid yachtsman.
Geoff Irwin, giáo sư khảo cổ học tại Đại học Auckland và là một người đam mê du thuyền cho biết: “Tất cả những gì chúng ta có thể nói chắc chắn là người Lapita có những chiếc xuồng có khả năng đi biển, và họ có khả năng chèo lái chúng."
Those sailing skills, he says, were developed and passed down over thousands of years by earlier mariners who worked their way through the archipelagoes of the western Pacific making short crossings to islands within sight of each other.
Ông nói, những kỹ năng chèo thuyền đó đã được phát triển và truyền lại qua hàng nghìn năm bởi những người thủy quân trước đó đã vượt qua các quần đảo ở phía tây Thái Bình Dương để thực hiện các chuyến vượt biển ngắn đến các hòn đảo trong tầm nhìn của nhau.
The real adventure didn’t begin, however, until their Lapita descendants neared the end of the Solomons chain, for this was the edge of the world.
Tuy nhiên, cuộc phiêu lưu thực sự đã không bắt đầu cho đến khi hậu duệ Lapita của họ đến chỗ kết thúc của quần đảo Solomon, vì đây là rìa của thế giới.
The nearest landfall, the Santa Cruz Islands, is almost 230 miles away, and for at least 150 of those miles, the Lapita sailors would have been out of sight of land, with empty horizons on every side.
Vùng đất liền gần nhất, Quần đảo Santa Cruz, cũng cách đó gần 230 dặm, và trong ít nhất 150 dặm trong số đó, các thủy thủ Lapita sẽ không nhìn thấy đất liền, với những đường chân trời mênh mông trống trải ở mọi phía.
The Lapita’s thrust into the Pacific was eastward, against the prevailing trade winds, Irwin notes. Those nagging headwinds, he argues, may have been the key to their success.
Irwin lưu ý: Cuộc hành trình của người Lapita vào Thái Bình Dương di chuyển theo hướng đông, ngược hướng gió mậu dịch. Ông lập luận rằng những cơn gió ngược chiều này đó có thể là chìa khóa thành công của họ.
“They could sail out for days into the unknown and reconnoiter, secure in the knowledge that if they didn’t find anything, they could turn about and catch a swift ride home on the trade winds.
“Họ có thể đi thuyền trong nhiều ngày tới những khu vực không rõ ràng và thăm dò những vùng biển này, họ biết chắc rằng nếu họ không tìm thấy bất cứ điều gì, họ có thể quay lại chỗ cũ nhờ bắt kịp những trận gió mậu dịch mạnh.
It’s what made the whole thing work.” Once out there, skilled seafarers would detect abundant leads to follow to land: seabirds and turtles, coconuts and twigs carried out to sea by the tides and the afternoon pileup of clouds on the horizon that often betokens an island in the distance.
Đó là điều đã làm cho tất cả hoạt động. ” Khi ra khỏi đó, những người đi biển lành nghề sẽ phát hiện ra nhiều đầu mối hướng đến những vùng đất: chim biển và rùa, dừa và cành cây dược đưa ra biển theo thủy triều và những đám mây buổi chiều tụ lại ở đường chân báo hiệu sự tồn tại của một hòn đảo nào đó ở phía xa.
All this presupposes one essential detail, says Atholl Anderson, professor of prehistory at the Australian National University and, like Irwin, a keen yachtsman: that the Lapita had mastered the advanced art of tacking into the wind.
Atholl Anderson, giáo sư về tiền sử tại Đại học Quốc gia Úc, nói rằng tất cả những điều này giả định trước một điều quan trọng, như Irwin, một người đam mê du thuyền cũng nói: rằng người Lapita đã rất lão luyện trong việc trở buồm theo hướng gió.
“And there’s no proof that they could do any such thing,” Anderson says.
Anderson nói: “Và không có bằng chứng nào cho thấy họ có thể làm bất kỳ điều gì như vậy."
“There has been this assumption that they must have done so, and people have built canoes to re-create those early voyages based on that assumption.
“Đã có giả thiết cho rằng họ chắc chắn đã làm như vậy, và người ta đã chế tạo ra những chiếc xuồng để tái hiện lại những chuyến đi đầu tiên dựa trên giả định đó.
But nobody has any idea what their canoes looked like or how they were rigged.”
Nhưng không một ai hình dung được những chiếc xuồng của họ đã có dáng vẻ như thế nào và chúng đã được lắp ráp ra sao.
However they did it, the Lapita spread themselves a third of the way across the Pacific, then called it quits for reasons known only to them.
Dù họ đã làm bằng cách nào đi nữa, người Lapita đã đi được một phần ba chặng đường mở rộng địa bàn của họ trên Thái Bình Dương, nhưng sau đó họ bỏ cuộc vì những lý do mà chỉ họ mới biết.
Ahead lay the vast emptiness of the central Pacific, and perhaps they were too thinly stretched to venture farther.
Hành trình phía trước của họ là sự trống trải mênh mông của trung tâm Thái Bình Dương, và có lẽ họ đã không đủ can đảm để đi xa hơn.
They probably never numbered more than a few thousand in total, and in their rapid migration eastward they encountered hundreds of islands – more than 300 in Fiji alone
Họ đã chắc chắn chưa bao giờ đếm được nhiều hơn vài nghìn, và trong cuộc di cư nhanh chóng về phía đông, họ đã gặp hàng trăm hòn đảo - chỉ riêng ở Fiji đã có hơn 300 hòn đảo
Supplied with such an embarrassment of riches, they could settle down and enjoy what for a time was Earth’s last Edens.
Với sự trù phú vượt quá mức bình thường này, họ có thể ổn định cuộc sống và tận hưởng nơi có lẽ đã là những "vườn địa đàng" cuối cùng của Trái đất.
Rather than give all the credit to human skill and daring, Anderson invokes the winds of change
Thay vì quy hết công trạng cho kỹ năng và sự táo bạo của con người, Anderson còn nhắc tới làn gió của sự thay đổi như một lí do.
El Niño, the same climate disruption that affects the Pacific today, may have helped scatter the first settlers to the ends of the ocean, Anderson suggests.
El Niño, hiện tượng biến động khí hậu tương tự ảnh hưởng đến Thái Bình Dương ngày nay, có thể đã giúp phân tán những người định cư đầu tiên đến tận cùng đại dương, Anderson gợi ý.
Climate data obtained from slow-growing corals around the Pacific and from lake-bed sediments in the Andes of South America point to a series of unusually frequent El Niño around the time of the Lapita expansion, and again between 1,600 and 1,200 years ago, when the second wave of pioneer navigators made their voyages farther east, to the remotest corners of the Pacific.
Dữ liệu khí hậu thu được từ san hô phát triển chậm xung quanh Thái Bình Dương và từ trầm tích lòng hồ ở dãy Andes ở Nam Mỹ chỉ ra một chuỗi diễn biến bất thường của El Niño vào khoảng thời gian người Lapita mở rộng lãnh thổ, và một lần nữa trong khoảng 1.600 đến 1.200 năm trước, khi làn sóng thứ hai của các nhà hàng hải tiên phong thực hiện các chuyến đi của họ xa hơn về phía đông, đến những góc xa nhất của Thái Bình Dương.